Một loạt hơn mười tiếng chuông vang lên rền rĩ, chúng được phát xuất từ hướng Báo Ân tự, một nơi hiện đang có đèn đóm sáng trưng trông rất tấp nập.

Vài con quạ bị tiếng chuông làm cho giật mình kinh sợ, kêu quang quác mấy tiếng rồi vỗ cánh bay vụt qua ngôi Báo Ân tự nguy nga lộng lẫy, để rồi biến mất trong bóng đêm liền ngay sau đó.

Thời gian lúc này đã gần đến nửa đêm, những tiếng tiêu, điệu đàn trên các chiếc họa thuyền [1] của sông Tần Hoài đã bắt đầu có vẻ mỏi mệt, những ánh đèn cũng dần tắt. Tuy nhiên, vẫn còn vài chiếc thuyền nhỏ đang được thả trôi chầm chậm trên mặt sông, chiếc nào chiếc nấy đều có đèn đuốc sáng trưng, tiếng đàn sáo dập dìu hòa cùng những tiếng ca réo rắt vang lên không ngớt. Hai bên thủy lâu có rèm đỏ che kín, từ bên trong thỉnh thoảng lại bay ra mùi phấn son hòa quyện với mùi vị tanh tanh của nước sông, tạo nên một loại khí tức dâm dật của nơi phồn hoa.

Ngô Qua đứng trên một chiếc thuyền con ở xa xa nhìn về phía chiếc kim luân cao ngút tận mây của Báo Ân tự, mắt nhìn ánh đèn rực rỡ, tai nghe tiếng đàn sáo trên sông, bất giác thở dài một tiếng.

Đã có ba, bốn năm rồi chàng chưa từng trở lại Nam Kinh. Trước kia, mỗi lần đến đây, chàng đều có thông lệ là đến thắp hương tại Báo Ân tự, ngắm đèn trên sông Tần Hoài, và chiêm ngưỡng tòa cổ thành nổi tiếng hùng vĩ tráng lệ suốt hàng ngàn năm nay. Quê hương của chàng chỉ là một nơi bần cùng và yên tĩnh, không hề có cảnh đêm náo nhiệt và những lá cờ tung bay trong gió như ở đây. Tuy nhiên, chuyến này đến đây, chàng không có thời gian để thưởng ngoạn.

Chiếc thuyền con vừa lướt đến một khúc quanh, Ngô Qua lập tức rời thuyền lên bờ. Ở đầu bến thuyền là một lối mòn nhỏ, vừa chật hẹp vừa tối đen, tại đây có khoảng mười bóng người qua qua lại lại. Vừa thấy Ngô Qua xuống thuyền, bọn họ liền ào đến gần, cười nói huyên thuyên, hết lời chào mời. Thì ra họ đều là những ả kỹ nữ thấp hèn đi đón khách hàng, nhưng khi nhìn thấy y phục của Ngô Qua có vẻ cũ rích thì liền cho rằng chàng ở nông thôn mới lên nên lại tản ra như trước.

Ngô Qua thầm lắc lắc đầu, tiếp tục đi xuyên qua mấy ngõ hẻm nữa thì đã trông thấy Hạng Bùi đang đứng trước một tòa tiểu lâu.

* * * * *

Tuổi tác của Hạng Bùi chỉ lớn hơn Ngô Qua có vài tháng. Mấy năm rồi không gặp, hắn quả đã mập lên không ít. Tuy rằng hắn khéo dưỡng da, vẫn có thể giữ cho da mặt trắng như ngọc như trước kia, nhưng hai bên khóe mắt cũng khó tránh khỏi có nếp nhăn, lại thêm nhiều ngày lao tâm lao lực nên bao nhiêu đường nét của một người trung niên đều hiện ra hết. Hắn sống ở tòa tiểu lâu trang nhã sạch sẽ này đây. Bên trong tiểu lâu có một nha hoàn tuổi độ mười bốn, mười lăm, và phòng ốc được bày biện đơn giản nhưng rất thanh khiết. Trên bức tường nằm trước tấm bình phong có treo một chiếc đàn tỳ bà, một bức mặc Trúc Lan Thảo, và một bức tranh được treo đứng, bên trên còn có đề tên của Cao Thanh Khâu. Ngô Qua biết được nơi đây chính là chỗ ở của Thư Ngọc Sanh.

Hạng Bùi nhận lấy vật Ngô Qua mang đến thay gia nhân, rồi ôm chặt chàng, cười nói :

– Bọn họ đều khỏe cả chứ?

Ngô Qua gật đầu đáp :

– Tẩu tẩu vẫn tốt, nhạc phụ của ngươi tháng trước vừa bị trúng gió, nhưng bây giờ thì vô sự rồi. A Nãi tuy còn nhỏ như vậy mà lại có thể viết được bốn, năm trăm chữ rồi đấy.

Hạng Bùi thoáng lộ vẻ xấu hổ, rồi đi luôn vào đề tài chính :

– Ta đã tra hết các nha môn thuộc miền Nam, đi nhận mặt hầu hết các tử thi vô chủ của nữ nhân mà vẫn không tìm được nàng.

Ngô Qua thở dài :

– Hôm nay đã là ngày thứ mười lăm rồi phải không? Theo kinh nghiệm của ta, nếu là tình huống tốt thì nàng đã bị người ta bắt cóc và đem đi bán ở một nơi xa tận ngàn dặm, còn nếu là tình huống xấu thì chắc có lẽ Ngọc Sanh đã không còn trên đời này nữa.

Trong đôi mắt đầy vẻ mệt mỏi và thâm quầng của Hạng Bùi chợt xuất hiện vài giọt lệ, hắn nói :

– Ta đã dùng tất cả mọi quan hệ có được với nha môn để truy tìm tên ma cô đã đến tìm Ngọc Sanh vào đêm hai mươi. Những người đó thông thường đều có liên quan tới giới hắc đạo, nên ta cũng có điều cố kỵ, vì vậy nên mới phải phiền ngươi đến Nam Kinh này một chuyến.

Nói xong, hắn siết chặt tay Ngô Qua, thốt :

– Ta biết, ta và Ngọc Sanh ở cùng một chỗ khiến ngươi không vui, nhưng… ngươi sẽ giúp ta chứ?

Ngô Qua gượng cười, trong lòng chàng cảm thấy khá chua chát, nhưng nhìn thấy bộ dạng của Hạng Bùi như vậy thì chỉ đành an ủi hắn :

– Chúng ta quen biết nhau bao lâu rồi?

Hạng Bùi ấp úng nói :

– Tổng cộng có mười hai… à, có lẽ cũng sắp được mười ba năm rồi nhỉ. Ngươi nói đi, năm ấy ngươi phải ngồi tù oan nửa năm, có phải là ta vẫn thỉnh thoảng mang thịt ngon tới cho ngươi không?

– Năm xưa, bốn người chúng ta, ngươi, ta, Cảnh Chiêu, và Trác Yến Khách là bằng hữu thuở thiếu thời, nên vĩnh viễn cũng sẽ là bằng hữu với nhau.

Tâm tư của Hạng Bùi có hơi chút hoảng hốt, hắn nhớ lại chuyện năm xưa rồi thở dài nói :

– Năm xưa, bốn người chúng ta đều ở tuổi thiếu niên, hai văn hai võ, đã từng thề rằng sẽ cùng phát triển sự nghiệp… ài, mới đó mà mười năm đã qua rồi. Yến Khách nhờ vào võ công cao cường mà giờ đây đã trở thành một nhân vật hiệp khách có tiếng tại Hoài Bắc. Cảnh Chiêu dù chịu khổ mười năm, nhưng rốt cuộc năm ngoái cũng đã thi đỗ khoa Hương, năm nay thi lấy Tiến Sĩ chưa chắc là đã không có khả năng. Ta giờ đây đang làm mạc khách [2] cho Lại Bộ, thật chẳng mong có thể thi cử đỗ đạt gì nữa, ngày sau sẽ ra sao, cả ta cũng không biết được. Hồi đó so về văn tài, ta và hắn đều xuất sắc như nhau, ai ngờ giờ đây, ta lại không được như ý. Ba năm trước, nghe nói ngươi không làm bộ khoái nữa, thật khiến ta lo lắng thất kinh. Bộ khoái mà cũng không muốn làm – ta nghĩ hẳn là ngươi rất giàu.

Ngô Qua bình đạm nói :

– Mỗi người mỗi chí, tốt xấu gì cũng tự mình biết mà không cần nói ra. Ngươi ít ra cũng còn khá hơn so với Cảnh Chiêu. Còn như ta…

Chàng thoáng dừng lại, nhìn sang khuôn mặt anh tuấn của Hạng Bùi, đoạn thở dài rồi nói :

– Thôi đừng nói chuyện này nữa, mười năm trôi qua, ngươi và ta đều đã thay đổi cả.

———————-

[1] Họa thuyền: thuyền được vẽ hoặc sơn phết đủ màu đủ kiểu.

[2] Mạc khách: người chuyên lo giấy tờ trong quan phủ.