Tân Hòa Tuyết không hề đặt hy vọng gì vào những kịch bản của đại thế giới, bởi vì kịch bản khảo hạch lần này cũng được chọn ngẫu nhiên từ kho dữ liệu. Sau khi nghe K giới thiệu về kịch bản lần này, y cũng không cảm thấy thất vọng.
Có thể nói, kịch bản lần này đúng thật là ở cấp độ của một đại thế giới.
Tư liệu kịch bản mà K truyền đến cực kỳ ngắn gọn. Có lẽ bởi bài kiểm tra của thế giới này tập trung vào năng lực suy đoán cốt truyện của nhân vật, nên chi tiết của câu chuyện đã bị lược bỏ gần như hoàn toàn.
Tóm lại, đây là câu chuyện xưa về việc báo ân của một con cá chép.
Yêu quái cá chép lần đầu bước vào nhân gian, gặp hạn hán khắc nghiệt, không đủ sức hóa thành người, suýt chút nữa chết khô. Một thư sinh nghèo đã cứu nó, mang về nuôi trong lu nước ở nhà. Sau trận mưa lớn, thư sinh thả cá chép trở về sông.
Yêu quái cá chép ghi nhớ ân tình, sau đó để báo đáp, nó lấy thân báo đáp giúp thư sinh nghèo trên đường lên kinh thành thi cử: đưa vàng bạc, cứu nguy khỏi bọn sơn tặc, và kết nối với các đại quan và quý nhân trong kinh thành giới thiệu thư sinh cho họ. Cuối cùng, giữa một người một yêu nảy sinh tình cảm sâu sắc.
Tuy nhiên, vì con đường nhân - yêu khác biệt, sau khi thư sinh nghèo đỗ Trạng Nguyên, hắn gặp một vị cao tăng. Cao tăng tiết lộ thân phận của cá chép yêu, và trong nỗi hoảng sợ, thư sinh đồng tâm hiệp lực cùng cao tăng thu phục yêu quái cá chép, trấn áp cá chép dưới chân tháp An Bình ở núi Chiêu Diêu.
Từ xưa đến nay, chủ đề tài tử giai nhân luôn tồn tại và chưa bao giờ phai nhạt. Những câu chuyện về thần tiên, yêu quái và các thư sinh nghèo khổ cũng chỉ là một biến thể trong số đó. Có rất nhiều câu chuyện kể về yêu quái tận tình hộ tống thư sinh vượt qua mọi thử thách để đạt được danh hiệu tiến sĩ, rồi lặng lẽ rời khỏi mà không để lại dấu vết gì. Tuy nhiên, kết cục như việc dùng sức mạnh để trấn áp yêu quái cá chép và giam cầm nó thì quả thực rất hiếm thấy.
Tân Hòa Tuyết từng nghe qua một câu chuyện tương tự, có liên quan đến Bạch Xà.
Kịch bản lần này đại khái là như vậy, nội dung không đặt nhiều hạn chế về diễn giải tính cách nhân vật, nhưng K đã giới thiệu một thuộc tính cố hữu(*) của nhân vật mà Tân Hòa Tuyết sắm vai:
(*) cố hữu : Sẵn có từ lâu. Thuộc một cách tự nhiên, không thể tách khỏi
Y là nhân ngư, không phân biệt giới tính, vừa có cơ quan sinh sản vừa có cơ quan sinh dục. Cơ quan sinh sản ẩn dưới vây cá, còn cơ quan sinh dục dưới lớp vảy chỉ xuất hiện khi đ*ng t*nh.
Ngoài hệ thống sinh sản độc đáo của nhân ngư, Tân Hòa Tuyết còn phải đối mặt với một vấn đề quan trọng hơn: trí nhớ cá chỉ kéo dài bảy giây.
Dù đã hóa thành yêu, năng lực lưu trữ ký ức đã tiến bộ nhưng khả năng ghi nhớ của cá chép vẫn bị giới hạn trong bảy ngày, đây là căn cứ theo quy luật duyên pháp của trời đất.
Cá chép bướm vốn là biểu tượng của phú quý và viên mãn, thường được gọi là “phong thủy cá.” Phúc đức của nó rất lớn, những ai tiếp xúc với nó cũng được hưởng phần nào phúc vận.
Nhưng con người vốn dĩ ba hồn bảy vía không thể chịu đựng được phúc đức quá lớn. Mọi sự trên đời đều có quy luật: trưa sáng sẽ chiều, trăng tròn rồi lại khuyết, vật cực tất phản(*). Mọi thứ phát triển đều không thể thoát khỏi quy luật của tam giới. Để tránh những hậu họa có thể xảy ra, cá chép yêu cứ bảy ngày lại xóa sạch ký ức, không để phát sinh quá nhiều sự gắn bó hay tương tác với con người.
(*) một vật hoặc một sự việc khi đi đến điểm cực độ trong giới hạn thì sẽ phản đảo lại.
Việc xóa ký ức này là vô cùng triệt để.
Qua bảy ngày tương đương như một lần luân hồi tu luyện. Kỳ hạn vừa đến, nó trở lại nguyên hình cá, nó sẽ lặn xuống nước lần nữa, rồi lại tái xuất như một đứa trẻ sơ sinh lần đầu tiếp xúc thế giới.
Dẫu vậy, trong cốt truyện lần này, rõ ràng dọc theo đường đi của cá chép yêu, nó lại tỏ ra một lòng say mê báo ân.
Kịch bản không giải thích làm thế nào cá chép nhớ được ân nhân của mình, hoặc làm thế nào tìm lại thư sinh nghèo. K chỉ nhắc đến một từ khóa: “vảy hộ tâm(*).”
(*) bảo vệ tâm trí
Sau khi đến thế giới này, Tân Hòa Tuyết nhận được ký ức truyền thừa của tộc mình.
Cá chép bướm thực sự có một mảnh vảy hộ tâm màu vàng nhạt, trên đó khắc một chữ, vĩnh viễn không thể xóa. Thông thường, cá chép yêu khắc tên bạn đời lên vảy hộ tâm để có thể thông qua tên tìm lại họ.
Tuy nhiên, điều này cũng có hạn chế, tên của phàm nhân không thể khắc lên vảy này. Giống như quy luật duyên pháp của trời đất, mọi thứ đều có mối quan hệ nhất định. Những tên gọi và địa danh trong thế gian, khi đã khắc lên dấu ấn, sẽ vì không thể chịu đựng được phúc đức quá lớn mà rơi vào sự phản phệ, bị tổn thương ngược lại.
Nhìn từ góc độ này, dường như cá chép chỉ có thể khắc chữ báo ân lên vảy hộ tâm. Nhưng nhất định vẫn có phương pháp khác để nó tìm lại ân nhân, nhưng mà Tân Hòa Tuyết tạm thời chưa rõ.
"Người thư sinh nghèo này tên là gì?"
Tân Hòa Tuyết dò hỏi toàn bộ đại danh từ chỉ nhân vật trong hành trình của kịch bản lần này:
“Đến lúc đó tôi mất trí nhớ, anh trai, anh có thể nhắc tôi không?”
K lần này không còn là cộng sự mà đã trở thành “anh trai tốt” trong lời nói của y.
Chẳng qua, lần này K bình thản đáp:
“Trong khảo hạch thế giới lần này, viên chức Tân Hòa Tuyết là thí sinh, hệ thống K được định là giám khảo. Hệ thống sẽ không cung cấp bất kỳ trợ giúp đặc thù nào. Mong thí sinh và giám khảo giữ khoảng cách xã giao thích hợp.”
Tân Hòa Tuyết: “…”
Y khẽ cười:
“Tốt thôi, giám khảo tiên sinh.”
............
Núi Chiêu Diêu, bên cạnh Thiên Trì có một cây bồ đề đã tu luyện ngàn năm.
Bồ Đề Quân – hình dạng là một lão ông tóc bạc, là người chứng kiến sự trưởng thành của tất cả tiểu yêu quái trong khu vực.
Những tiểu yêu có thể hóa hình thì phải xuống dưới chân núi phàm trần để rèn luyện. Trên núi Chiêu Diêu, linh khí chỉ đủ để giúp động thực vật sinh ra linh thức, may mắn lắm thì mới có thể hóa hình. Tuy nhiên, đạo hạnh(*) và sự tiến bộ vẫn phải được rèn luyện qua quá trình trải nghiệm trong thế gian. Để yêu vật có thể thành tiên, đạt đến thánh, cần có đủ cơ duyên và phải ngộ ra được con đường đại đạo của chính mình.
(*) Đạo hạnh là những hành vi phù hợp với đạo đức, thể hiện cụ thể qua ba nghiệp thân, khẩu, ý.
Bồ Đề Quân truyền đạt kinh nghiệm cho Tân Hòa Tuyết, nhấn mạnh:
"Phải cẩn thận với các thiên sư trừ yêu của triều Đại Trừng.
Giữ vững bản tâm, không được đi sai đường. Việc hấp thụ huyết nhục phàm nhân là lối tắt để kéo dài tuổi thọ tuy mang lại sự tiến bộ trong tu vi, nhưng chung quy không có cách nào giúp chạm đến đại đạo, thậm chí còn chuốc họa vào thân, bị thiên sư truy sát."
Mặt khác, Bồ Đề Quân nhắm vào tình huống của Tân Hòa Tuyết, ông nhắc nhở: "Còn phải đề phòng những phàm nhân tâm thuật bất chính. Trăm triệu lần không được dễ dàng tin họ, kẻo phí hoài tấm lòng son của ngươi".
Cá chép yêu là hiện thân của phúc lành và sự may mắn, tất cả tinh túy ấy đều được nuôi dưỡng trong trái tim trung kiên và tinh thần thuần khiết. Chính nơi đây cũng là nơi hội tụ linh khí, là nguồn gốc của tu vi và giác ngộ.
Tuy nhiên, nếu can thiệp quá mức vào vận mệnh của con người, dùng tấm lòng son để cầu phúc đức cho phàm nhân, thì thường kết quả cuối cùng sẽ khiến cẩm ly yêu cạn kiệt tâm lực.
Tân Hòa Tuyết gật đầu khiêm tốn:
“Đa tạ.”
Y cẩn thận ghi nhớ từng điều trong "Tam Đại Kị" mà Bồ Đề Quân đã cảnh báo, khắc sâu vào tận tâm khảm. Sau khi cúi đầu cáo biệt Bồ Đề Quân, y rời đi.
Con cá chép với lớp vảy trắng sáng lấp lánh, chiếc đuôi dài như làn sóng bạc, lướt nhẹ nhàng theo dòng thác nước từ Thiên Trì chảy xuống.
Bồ Đề Quân đứng bên tiễn biệt.
............
Tân Hòa Tuyết theo dòng thác trôi xuống, cuối cùng đến một con sông cạn kiệt nước vì hạn hán.
Năm ngoái, vào cuối mùa hè, Giang Châu gặp phải trận lũ lớn. Khoản cứu trợ gồm năm đợt từ triều đình đã được gửi xuống. Thế nhưng, năm nay, khi tháng năm vừa đến, vùng đất này lại phải đối mặt với một trận hạn hán nghiêm trọng.
Từ sau tiết Thanh Minh, gần hai tháng trời không có lấy một giọt mưa. Tiếng ve râm ran giữa mùa hè, những cánh đồng lúa nước khô cằn chờ được tưới, và dòng sông thì đã sớm trơ đáy.
Mặt đất vàng nứt nẻ thành từng đường ngang dọc, chỉ còn những bụi cỏ dại xanh xám điểm chút vàng úa len lỏi trong kẽ nứt. Những mầm lúa non, dưới cái nắng chói chang, đã héo rũ như đang thoi thóp trong cơn hấp hối.
Gió phơn cuộn qua, mang theo hơi nóng như muốn thiêu đốt tất cả. Đôi giày gai dẫm lên lớp đất khô cằn, có thể cảm nhận rõ luồng nhiệt hầm hập bốc lên từ những kẽ nứt.
Áo tay bó màu xanh lam nhạt và chiếc quần vải đay cộc được buộc gọn, đúng kiểu trang phục gọn nhẹ cho công việc đồng áng. Nhưng dù ăn mặc đơn giản, trời hôm nay vẫn không có lấy một giọt mưa.
Chu Sơn Hằng cúi nhặt chiếc nón rơi dưới đất, dùng khăn lau mồ hôi ướt đẫm trên trán, rồi đội lại nón lên đầu. Chỉ khi ấy, hắn mới cảm nhận được chút mát mẻ hiếm hoi.
Trên đường về, hắn lặng lẽ quan sát, bất kể là ruộng nhà mình hay ruộng người khác trong làng, tất cả đều khô cạn, không còn nước dẫn vào. Nếu hạn hán tiếp tục kéo dài, chỉ e năm nay, người trong làng Hứa Thọ sẽ phải đối mặt với cảnh khốn cùng, thậm chí đến mức đổi con cho nhau mà ăn.
Đi dọc bờ ruộng, trên vai hắn vác chiếc cào vừa dùng để nhổ cỏ dại ngoài đồng. Nhưng việc làm này chẳng đem lại kết quả đáng kể, vì đã nhiều tháng không mưa, ruộng nhà hắn năm nay sợ rằng cũng chẳng thể thu hoạch nổi.
Một người làng đi ngang qua, chào hỏi hắn chốc lát:
"Chu đại, lát nữa ta qua nhà cậu nhờ chút việc. Giúp ta viết một lá thư gửi về nhà họ hàng xa bên Châu gia."
Chu Sơn Hằng là một trong số ít người đọc sách ở vùng quê hẻo lánh gần thôn Hứa Thọ.
Khác hẳn với những học trò chữ gầy yếu, trắng trẻo cùng huyện, Chu Sơn Hằng có vóc dáng cao lớn, khỏe mạnh, vai rộng eo thon. Làn da rám nắng của hắn toát lên vẻ cứng cáp do nhiều năm lao động ngoài đồng áng.
Nhưng vì được học nhiều sách vở, hắn khác biệt với những nông dân chân chất nơi làng quê. Chu Sơn Hằng mang trong mình khí chất bình tĩnh, đĩnh đạc, lại phảng phất vẻ điềm đạm, nhu hòa của người đọc sách.
Ngũ quan hắn rất cân đối, sắc nét, hiện rõ vẻ đoan chính, cả người như một cây tùng uy nghiêm đứng sừng sững trên vách núi cao.
Khi nghe người đàn ông trung niên ở thôn bên gọi, Chu Sơn Hằng đáp lời rồi bước lên con đường trở về nhà.
Ánh mắt hắn thoáng nhìn qua và mày kiếm nhíu lại. Dòng sông lớn chảy qua thôn Hứa Thọ thuộc địa phận Tam Nguyên Hương hiện nay đã khô cạn do hạn hán kéo dài nhiều tháng. Chỉ còn lại vài vũng nước nhỏ lẻ loi.
Trong một vũng nước nhỏ, hắn thấy một con cá chép trắng lấp lánh. Bởi vì con cá trắng đến lóa mắt, nên hắn thoáng nhìn qua rồi lại chăm chú nhìn con cá chép này trong vũng nước cạn.
Ở đây vốn chỉ có các loài cá thường như cá trắm, cá trích hay cá chạch, chứ cá chép đã rất ít thấy, huống chi lại là loại cá chép trắng toàn thân như tuyết thế này.
Chu Sơn Hằng từ trước đến nay, chưa từng gặp qua.
Hắn men theo bậc đá đi xuống phía dưới. Vì nước sông đã cạn, những phiến đá xanh vốn dùng để giặt giũ giờ đây cũng vô dụng. Hắn bước xuống phía dưới những phiến đá xang.
Tân Hòa Tuyết vốn dĩ là kẻ hành tung phiêu bạt, thường xuyên qua lại giữa nhân hình và ngư hình nhờ linh khí ở Chiêu Diêu Sơn. Thế nhưng, gặp phải trận đại hạn bất ngờ, vừa rời khỏi nước, y chẳng thể duy trì nổi hình dạng nhân ngư. Chỉ còn lại một con cá chép lớn nằm thoi thóp trên lòng sông khô cạn.
Ngay cả những vũng nước nhỏ nhoi còn sót lại cũng đang bị ánh nắng thiêu đốt đến cạn kiệt.
Nhìn thấy có người tới gần, con cá chép miễn cưỡng uể oải quẫy nhẹ chiếc đuôi, trông vô cùng đáng thương.
Chu Sơn Hằng tháo nón xuống, dùng nón múc nước rồi cẩn thận thả con cá chép vào đó trước khi mang về nhà.
..........
Chu Sơn Hằng giúp người đàn ông trung niên ở thôn bên viết xong bức thư. Hắn dùng ống trúc để đựng thư nhằm tránh hư hại trong quá trình gửi đi. Người đàn ông định nhờ người dân gửi thư đến quê nhà.
“Không biết tình hình ở Châu gia thế nào. Nếu trời vẫn không mưa, chắc ta phải về nương nhờ nhà ông cậu.” Người đàn ông thở dài. “Một tờ biểu tấu dài ba ngàn dặm, nhưng triều đình liệu có đoái hoài đến những kẻ sa cơ thất thế như chúng ta? Năm nay thật khó khăn quá!"
Chu Sơn Hằng không nói gì. Hắn vốn là người trầm tĩnh, ít lời, nên điều này không làm người đàn ông thấy lạ.
Hắn chỉ thu tiền viết thư rất ít vì đây là ở quê, năm văn tiền một phong thư, chỉ đủ mua mực. Người đàn ông trả tiền xong, hỏi thêm:
“Mẹ cậu dạo này sức khỏe ra sao?”
Chu Sơn Hằng lắc đầu: “Không khá hơn. Bệnh ho gần đây có chút nghiêm trọng, bà chỉ có thể nằm nghỉ trên giường.”
Người đàn ông trung niên ban đầu chỉ định nói chuyện gia đình, hỏi thăm đôi chút về quê nhà. Nhưng khi nghe tình cảnh như vậy, ông chỉ biết an ủi:
"Rồi mọi chuyện sẽ ổn thôi, sẽ ổn thôi. Bao năm qua, bà ấy là góa phụ đơn độc mà vẫn gồng gánh nuôi lớn hai đứa các ngươi, thật không dễ dàng gì. Chu Tiểu Nhị đâu rồi?"
Chu Sơn Hằng nhìn trời nắng bên ngoài,
“Đệ ấy lên núi hái lá dâu, chưa về"
Khi người đàn ông trung niên cáo từ sắp sửa rời đi, vừa bước ra cổng tre. Hàng rào tre bao quanh một tiểu viện nhỏ trông thật sạch sẽ và gọn gàng. Dưới mái hiên, bên cạnh lu nước, ông nhìn thấy một con cá chép toàn thân trắng muốt đang bơi lội.
Cảnh tượng này khiến ông lập tức cảm thấy vô cùng hiếm lạ
Ông ngó trái ngó phải, “Con cá này cậu bắt ở đâu thế?”
“Thấy bên bờ sông,” Chu Sơn Hằng đáp.
Ở thôn quê, từ khi hạn hán, cá trong sông như cá trắm, cá trích đã sớm bị dân làng bắt hết để nấu canh. Loài cá chép trắng này lại vô cùng hiếm thấy.
Người dân nông thôn không rành chuyện xem xét chủng loại, chỉ cảm thấy đây là một thứ gì đó rất hiếm lạ. Người đàn ông trung niên cũng không ngoại lệ, ông chỉ thấy con cá chép trắng này thật sự đặc biệt.
Nhà ông từ sau Tết đến giờ chưa có nổi một bữa ăn tử tế với chút thức ăn mặn. Bọn trẻ trong nhà thèm thuồng đến nỗi kêu khóc không ngừng. Ông quay sang nhìn Chu Sơn Hằng, hỏi:
"Con cá chép trắng này, cậu có bán không?"
Ông nghĩ mua bán với đồng hương, sẽ tiện hơn khi so với việc trên huyện mua bán cá.
Chu Sơn Hằng liếc nhìn thoáng qua lu nước, bình tĩnh đáp: “Không bán.”
Người đàn ông trung niên thất vọng ra về.
Chu Sơn Hằng cúi xuống, nhìn kỹ con cá chép trắng trong lu nước.
Phía sau nhà họ Chu tựa vào núi, trong núi có nguồn suối nhỏ. Dòng suối trong lành ấy uốn lượn chảy xuống phía sau nhà, cung cấp nước uống cho gia đình họ. Chỉ cần dòng suối này không cạn kiệt, nhà họ vẫn có nước để dùng.
Chẳng qua, lượng nước suối ít ỏi này không đủ để tưới đồng ruộng.
Nước trong lu trước nhà chính là từ dòng suối ấy, trong vắt và mát lành.
Con cá chép trắng với đuôi dài và vây mềm mại giãn ra, bơi lượn trong nước. Dáng bơi uyển chuyển của nó trông tựa như tuyết trắng trôi nhẹ trên làn nước.
Lớp vảy trắng từng xỉn màu khi phơi dưới nắng giờ đây lại lấp lánh ánh sáng nhàn nhạt, mỗi lần nó quẫy đuôi, ánh sáng ấy càng thêm lấp lánh, như những mảnh bạc vụn đang nhảy múa.
Chu Sơn Hằng nhìn con cá đến xuất thần. Hắn đưa tay định chạm vào chiếc đuôi đẹp đẽ của nó.
"Rầm!"
Tiếng nước vang lên.
Những giọt nước bắn tung tóe, rơi xuống trán, lông mày và cả cằm của Chu Sơn Hằng. Hắn bị con cá chép trắng quẫy nước lên đầy mặt.
Nhìn lại vào lu nước, con cá đã lặn sâu xuống đáy. Một lát sau, nó lại nổi lên, sát mặt nước, rồi bất ngờ phun hai bọt nước trắng về phía hắn.
Chu Sơn Hằng có cảm giác mình vừa bị mắng.
“Xin lỗi,” hắn khẽ nói, hối lỗi vì sự đường đột muốn chạm vào chiếc đuôi của con cá.
Tân Hòa Tuyết lười phản ứng hắn.
Cái lu chứa nước này thực sự quá nhỏ, khiến y không thể thoải mái bơi lội. Tuy vậy, vì là nước suối trong núi, chất nước khá dễ chịu.
Tân Hòa Tuyết âm thầm quan sát Chu Sơn Hằng. Y đại khái đã biết thân thế thư sinh nghèo này.
Hắn là một thư sinh nghèo ở thôn Hứa Thọ, Tam Nguyên Hương, thuộc Giang Châu. Chu Sơn Hằng là trưởng tử nhà họ Chu, một gia đình nghèo với vài mẫu đất cằn, lấy nghề trồng dâu nuôi tằm làm nguồn thu nhập phụ. Nhà chỉ có ba người: mẹ góa con mồ côi.
Hoàn cảnh này quả thật rất điển hình cho hình tượng một thư sinh nghèo trong những câu chuyện thường thấy.
Tân Hòa Tuyết lẳng lặng quan sát.
Khi ánh mặt trời ngả dần về tây, khói bếp bắt đầu bốc lên từ gian nhà bếp bên cạnh nhà chính, từng làn khói mỏng nhẹ, hòa lẫn ánh hoàng hôn nhàn nhạt mang sắc xanh.
Chu Nhị Lang, em trai của Chu Sơn Hằng, nhanh nhẹn chạy về nhà. So với người huynh trưởng trầm tĩnh, cậu bé bảy tám tuổi này vô cùng hoạt bát.
Cậu đặt giỏ tre sau lưng xuống, bên trong đầy ắp lá dâu hái được để chuẩn bị cho tằm ăn. Sau đó, cậu chạy vào bếp để phụ giúp.
Chu Sơn Hằng mang một phần thức ăn riêng vào phòng đông sương cho mẹ.
Hai huynh đệ dùng bữa tối trong nhà chính.
Chu Nhị Lang tò mò hỏi: “Đại ca, sao lại có con cá trong lu? Để ăn à?”
Chu Sơn Hằng nuốt một miếng cơm rồi đáp: “Để nuôi.”
Chu Nhị Lang gật gù: “Ồ. Con cá đó đẹp thật, trước giờ đệ chưa từng thấy con nào trắng như vậy. Mai đệ thuận đường đi vớt ít rong cho nó ăn nhé?”
Chu Sơn Hằng không đáp, chỉ gật đầu. Sau đó hắn hỏi: “Hai ngày nay đệ có đi học ở trường làng không?”
Chu Nhị Lang mếu máo: “Trời hạn thế này, năm sau còn chẳng có lương thực. Trong thôn không có tiền trả thầy Quách, nên thầy đã rời đi rồi.”
Ở Đại Trừng, không có trường học do nhà nước xây dựng, trường làng chỉ là nơi do dân trong thôn góp thuế ruộng thuê thầy về dạy chữ vỡ lòng cho bọn trẻ. Tiền công của thầy vốn đã thấp, chỉ nhận được hai đồng lương của mỗi nhà, vừa đủ sống qua ngày.
Người ta thường nói: " Mỗi nhà nộp 2 đồng lương, không lo trẻ em khó dạy." Nhưng thầy Quách không chịu nổi cảnh nghèo khó, cuối cùng đành bỏ việc, tìm đường sinh nhai khác.
Chu Sơn Hằng gật đầu: “Vậy từ giờ em học ở nhà. Huynh sẽ dạy đệ ‘Thiên Tự Văn’.”
Chu Nhị Lang rất kính trọng người huynh trưởng tài giỏi, nhưng nghĩ đến chuyện muốn cậu phải học, thật sự là làm khó cậu, Chu Nhị Lang lập tức trở nên ỉu xìu, miễn cưỡng đồng ý.
Sau bữa tối, Chu Sơn Hằng mang thuốc mới sắc vào phòng cho mẹ, rửa mặt xong rồi trở lại căn phòng phía tây của mình.
Nhà họ Chu sắp xếp phòng ốc sao cho hắn có không gian yên tĩnh để chuyên tâm học hành. Mẹ hắn ở phòng phía đông lớn nhất, còn Nhị Lang ở gian nhỏ hơn trong căn phòng phía đông này.
Chu Sơn Hằng thêm hai giọt dầu cây trẩu vào đèn, rồi rắc thêm ít muối để ngọn lửa cháy sáng hơn.
Hắn ngồi dưới ánh đèn, tiếp tục cầm sách ôn bài.
Quyển sách mà Chu Sơn Hằng đang đọc được mượn từ chùa trong làng. Đối với người dân nông thôn, sách vở là một thứ xa xỉ. Trong nhà của những người dân thường, hiếm ai có sách để đọc.
Chu Sơn Hằng chìm vào thế giới của từng trang sách, say mê đến mức quên cả thời gian.
Không biết đã bao lâu trôi qua, hắn bỗng nghe thấy tiếng nước bị khuấy động bên ngoài. Một lát sau, tiếng gõ cổng tre vang lên.
Lúc này đã là giờ Hợi, ánh trăng treo cao giữa bầu trời.
Ai lại đến vào giờ này?
Chu Sơn Hằng ra mở cửa.
Trước mặt hắn là một vị đạo sĩ trẻ tuổi, người khách khẽ chắp tay hành lễ, rồi nói:
“Lang quân, không biết ở đây có thể xin chút nước uống không?”
Chu Sơn Hằng vào nhà, rót một chén trà và mang ra cho vị đạo sĩ.
Người đạo sĩ uống cạn trong một hơi, xua tan cái khát của hành trình ngày đêm. Sau đó, ông hỏi:
“Lang quân có nhận thấy gì bất thường trong thôn Hứa Thọ những ngày gần đây không?”
Chu Sơn Hằng:
“Đạo trưởng, ý người là gì?”
Vị đạo sĩ trẻ tuổi không tiện nói chuyện yêu ma quỷ quái cho người phàm nghe, sợ ngày mai sẽ truyền đi, gây nên sự hoang mang trong thôn. Hắn chỉ cảm thấy con đường khi đi ngang qua thôn Hứa Thọ, ẩn ẩn nhận thấy có một luồng yêu khí thoáng hiện, nên muốn vào kiểm tra. Nhưng luồng yêu khí ấy khi có khi không, đến giờ thì đã tan biến.
Hắn đoán có thể do tu vi bản thân còn thấp, nên nhận biết sai.
Đêm đã khuya, vị đạo sĩ trẻ không muốn làm phiền lâu. Hắn cảm tạ Chu Sơn Hằng rồi nhanh chóng rời đi.
Chu Sơn Hằng đóng cửa, trở về phòng phía tây. Hắn thổi tắt ngọn đèn dầu, để ánh trăng từ ngoài cửa sổ chiếu vào căn phòng.
Lên giường, chỉ một lát sau, hô hấp đều đều, hắn chìm vào giấc ngủ.
Trong cơn mơ màng, Chu Sơn Hằng như nghe thấy tiếng ai đó gọi tên mình.
“Chu lang… Chu lang…”
“Chu Sơn Hằng…?”
Âm thanh dịu dàng, như từ cõi mộng mơ vọng lại, mông lung và mờ ảo.
Chu Sơn Hằng khẽ lắc đầu, tỉnh dậy. Mở to hai mắt. Nhưng cảnh tượng trước mắt khiến hắn hoàn toàn sững sờ.
Bên mép giường, một nam nhân trẻ tuổi ghé vào mép giường hắn, nằm nghiêng, tựa lưng lười biếng. Những ngón tay trắng muốt, như ngọc thạch, đang nghịch từng lọn tóc của hắn.
Khi thấy Chu Sơn Hằng rốt cuộc cũng tỉnh lại, người đó không chút để ý khẽ liếc mắt nhìn hắn. Một ánh nhìn hờ hững, nhưng đầy mê hoặc, như muốn hút hồn người đối diện.
Điều khiến Chu Sơn Hằng choáng váng hơn cả là dáng vẻ kỳ lạ của người này. Phần trên mặc một chiếc áo mỏng bằng lụa, nhưng phần dưới lại là một chiếc đuôi cá trắng tinh, vảy lấp lánh ánh sáng.
Chiếc đuôi chạm khẽ vào chân hắn, lạnh lẽo mà mịn màng như ngọc.
Toàn thân người lạ tựa như được khắc từ tuyết trắng, với ánh trăng dịu dàng phủ lên, đẹp đến mức không lời nào diễn tả được.
Người đó hơi cúi xuống, khuôn mặt gần sát vào hắn. Một mùi hương dễ ngửi lạnh lẽo, thanh khiết phả nhẹ vào mặt, khiến Chu Sơn Hằng không khỏi cứng đờ người. Tựa như cục đá, không chút nhúc nhích.
Nhìn vẻ kinh ngạc của hắn, ý cười trong mắt Tân HòaTuyết khẽ động, ánh mắt thoáng tia tinh nghịch. Chiếc đuôi cá khẽ vẫy nhẹ.
“Dọa ngươi choáng váng rồi sao?”
“Một thư sinh nghèo nàn như ngươi, sợ ta ăn thịt ngươi à?”
Chu Sơn Hằng cảm thấy cổ họng mình khô khốc, lời muốn nói ra nhưng lại nghẹn lại. Một lúc lâu sau, hắn lắc đầu, rồi cố gắng nói:
"Không sợ."
"Nếu không sợ? Vậy còn ngồi đờ ra đó làm gì? Mau tỉnh táo lại!"
Giọng điệu Tân Hòa Tuyết thay đổi, thoáng nhíu mày, ra lệnh:
"Dòng suối sau nhà ngươi sắp cạn rồi. Mau đưa ta về lại lu nước!"
Dù giọng điệu nghe như muốn ăn thịt người, lại chẳng khiến người ta cảm thấy hung dữ. Đôi mắt kia, dù có vẻ lạnh nhạt, nhưng sâu thẳm lại như mang theo ý tình dịu dàng trời sinh.
Chu Sơn Hằng còn đang ngơ ngẩn thì bất chợt bị một cái búng tay lên trán.
"Bộp!"
Hắn giật mình, đột nhiên ngồi thẳng dậy từ trên giường. Ánh trăng lạnh lẽo phủ khắp phòng, nhưng không thấy bóng dáng ai.
"Chẳng lẽ... là mơ?"
Chu Sơn Hằng đỡ trán, cố nhớ lại những gì vừa thấy. Ký ức trong mơ dường như mờ nhạt, chỉ nhớ mang máng rằng người kia bảo hắn ra sau nhà.
"Sau nhà có gì sao?"
Chu Sơn Hằng lắc đầu, hắn rời giường, khoác áo ngoài, chậm rãi bước ra sân sau.
Khi đến nơi, hắn ngạc nhiên phát hiện con cá chép trắng vốn dĩ đang ở trong lu nước lại đang vùng vẫy giữa dòng suối nhỏ sau nhà.
Tân Hòa Tuyết vừa rồi để tránh bị đạo sĩ kia phát hiện, đã tìm mọi cách nhảy vào dòng suối. Nhưng lúc này không về được. Đành phải báo mộng để nhờ Chu Sơn Hằng giúp đỡ.
"Thật kỳ lạ..."
Chu Sơn Hằng cúi xuống, nhẹ nhàng nhấc con cá chép trắng, thả lại vào trong lu nước.
Nhìn con cá thong thả bơi lội trong làn nước trong vắt, Chu Sơn Hằng vẫn không khỏi thắc mắc. Đang êm đẹp làm sao nó lại có thể từ lu nước nhảy ra ngoài dòng suối được?
Bất giác, hắn lẩm bẩm:
"Chẳng lẽ... thành tinh?"
Đoán như vậy, hắn không nhịn được mà bật cười.
Chắc là tại ban đêm đột nhiên gặp đạo sĩ, tâm lý suy nghĩ nhiều, rồi nằm mơ lung tung mà thôi. Trùng hợp mà thôi. Con cá làm sao có thể thành tinh được?
Chu Sơn Hằng đột nhiên sờ sờ giữa mày. Nơi đó dường như còn âm ấm, như thể vừa bị ai đó búng vào.