Hắn chậm một bước so với Tân Hòa Tuyết.
Ánh mắt hắn dừng lại nơi bàn tay buông lỏng của Tân Hòa Tuyết bên cạnh, từ ống tay áo lông vũ trắng muốt hé lộ ra đôi tay thon dài, ngón tay mảnh mai, móng tay nhẵn bóng. Làn da tái nhợt đến mức thiếu sức sống khiến người khác liên tưởng đến sự yếu đuối mong manh.
Yến Cức lại nhớ đến tối qua, chính bàn tay này đã nắm lấy tay hắn.
Rồi thì...
Hắn lại nhớ đến cảm giác bên khóe môi, như có một nhành lông chim trắng muốt lướt qua nhẹ nhàng. Rõ ràng chỉ là cái chạm thoáng qua như chuồn chuồn lướt nước, nhưng cảm giác ấy vẫn còn vương vấn trong tâm trí.
Hiện tại hắn như người mất hồn, đầu óc trống rỗng, nhưng đối phương lại có thể thản nhiên nói rằng mình đã quên hết, vậy là có thể xem như chưa từng có gì xảy ra đêm qua sao?
Nhưng đó là… nụ hôn đầu tiên của hắn.
Dù rằng tối qua cái gọi là “chạm môi” đó có lẽ còn chưa đủ để tính là một nụ hôn thật sự.
Gió bên sườn núi khá lớn. Tân Hòa Tuyết kéo khóa áo lông vũ lên đến tận cổ, nhưng gió vẫn len lỏi vào cổ áo và lướt qua làn da lộ ra bên ngoài.
Chiếc áo lông vũ có thiết kế cổ lông mềm mại. Gió thổi làm lớp lông trắng phất phơ quanh khuôn mặt Tân Hòa Tuyết.
Tay y buông thõng hai bên, khẽ cuộn lại. Các đốt ngón tay đông lạnh đến trắng bệch, đầu ngón tay hơi ửng hồng.
Yến Cức lặng lẽ tiến lên một bước, rút ngắn khoảng cách, đứng sóng vai với y. Khi tay hai người gần như sắp chạm nhau, Tân Hòa Tuyết bất ngờ rụt tay lại, đút vào túi áo.
Tựa như một chú mèo nhỏ vô tình vung đuôi câu cá, rồi lại nhanh chóng thu về khỏi mặt nước.
Khóe mắt Tân Hòa Tuyết liếc sang thấy gương mặt thanh niên bên cạnh mang theo vẻ thất vọng mơ hồ.
Khóe môi y khẽ cong, nhẹ đến mức khó nhận ra. Giả vờ như không thấy hành động của Yến Cức, y lục túi áo lấy ra đôi găng tay, từ tốn đeo vào.
Yến Cức không nhịn được, lên tiếng hỏi:
“Vì sao anh lúc nào cũng mang găng tay thế?”
Tân Hòa Tuyết: “Hửm?”
Y giơ bàn tay vừa xỏ găng ra trước mặt Yến Cức, năm ngón tay khẽ xòe, ánh mắt cong cong, cười nhạt:
“Tôi không thích tiếp xúc với người khác… hay bất cứ thứ gì.”
Là mắc chứng sạch sẽ ư?
Yến Cức không chắc lắm, nhưng chuyện này thuộc về quyền riêng tư của người ta. Giữa họ hiện tại vẫn chưa thân thiết đến mức có thể dò hỏi sâu hơn.
Khóe môi hắn khựng lại, hiếm khi im lặng không nói gì thêm.
Vừa xuống hết bậc thang núi, điều khiến Tân Hòa Tuyết không ngờ tới là người lính gác phụ trách trông coi lều trại hôm qua đang đứng chờ sẵn.
Trước khi lên núi, Tân Hòa Tuyết đã báo trước cho tháp canh, để tránh gây hiểu lầm vì sự biến mất đột ngột của mình.
Nhìn thấy vẻ mặt lo lắng bồn chồn của người kia, y bước đến hỏi nhỏ:
“Đã xảy ra chuyện gì sao?”
Người lính định nói rồi lại thôi, như đang do dự điều gì. Cuối cùng vẫn hạ quyết tâm, báo cáo:
“Tín hiệu của thủ trưởng Vệ Trạc và thủ trưởng Khuê Khắc… đã biến mất trên bản đồ hành trình.”
Yến Cức thấy sắc mặt Tân Hòa Tuyết dần trở nên nghiêm trọng.
.......
Không có người lính gác nào dám ngăn cản đường đi của người dẫn đường.
Ở Bắc Cảnh, lính gác có rất ít cơ hội tiếp xúc trực tiếp với những người dẫn đường, nhưng trong nhận thức và quá trình giáo dục của họ, người dẫn đường là những sinh vật yếu đuối, thể chất kém xa so với lính gác. Vì thế, cho dù được giao nhiệm vụ canh gác tại tháp chỉ huy, khi gặp một thanh niên dẫn đường đi qua, họ cũng không dám manh động ngăn cản.
Bàn tay vừa định giơ lên để chặn lại đã bị đôi mắt ôn hòa và giọng nói trầm lặng làm cho khựng lại:
Người lính gác không thể từ chối. Trước thần thái nhẹ nhàng, vẻ ngoài trắng trẻo và lạnh lẽo xa cách như tuyết và giọng nói dịu dàng của người dẫn đường kia, anh ta chỉ biết ngẩn ngơ gật đầu:
“Tất… tất nhiên, mời ngài…”
Các sĩ quan cấp cao trong phòng chỉ huy quân sự nhìn chằm chằm vào người thanh niên vừa đẩy cửa bước vào với vẻ cảnh giác.
Đến khi nhận ra y là người dẫn đường, ánh mắt họ mới dịu đi một chút. Nhưng giọng điệu vẫn cứng rắn, giữ nguyên lập trường:
“Thưa ngài, nơi này là phòng chỉ huy chiến lược. Xin ngài rời đi ngay.”
Do lính gác trước cửa không kịp phản ứng, Yến Cức thuận lợi bước theo sau Tân Hòa Tuyết vào phòng.
Ánh mắt hắn đảo qua nội thất bên trong phòng chỉ huy. Những bức tường được ngụy trang bằng lớp màu xanh biển, tích hợp hệ thống cách âm và thiết bị lọc tiếng ồn từ rừng núi, nhằm đảm bảo cảm xúc và lý trí của lính gác luôn ổn định.
Ở trung tâm căn phòng là một chiếc bàn điều khiển lớn, trên mặt bàn được khoan rỗng là bản đồ sa bàn ba chiều(*), trình chiếu hình ảnh địa hình được truyền về từ vệ tinh quân sự. Yến Cức nhanh chóng nhận ra dãy núi chạy dài nhấp nhô trên đó chính là tuyến đường nối liền Bắc Cảnh và khu mỏ sắt An Kohl, nơi hắn vô cùng quen thuộc.
(*) Sa bàn là một thuật ngữ chuyên môn chỉ đến một vị trí, một mô hình thu nhỏ về một đối tượng chủ thể nào đó nhằm phục vụ cho việc tìm hiểu, nghiên cứu... Trên thực tế, những sa bàn kiến trúc là một công trình kiến trúc được đắp nhỏ lại để tiện cho việc nghiên cứu hoặc làm mẫu.
Tuyến đường được đánh dấu màu trắng, tương tự như phần thể hiện Bắc Cảnh trên bản đồ. Tuy nhiên, hai bên đường ray, toàn bộ rừng núi và địa hình lại được thể hiện bằng một màu đỏ máu rực rỡ, điều này cho thấy khu vực hai bên đường đều là khu nguy hiểm cao độ (gấp khu), dao động năng lượng cực kỳ mạnh, hơn nữa còn lộ ra xu thế bành trướng.
Ở giữa tuyến đường, có một đoạn hiện lên ánh sáng xanh trắng nhấp nháy mờ nhạt, tín hiệu chập chờn, cực kỳ không ổn định.
Ánh sáng ấy lập lòe vài lần, rồi cuối cùng cũng vụt tắt hoàn toàn.
Tân Hòa Tuyết mím môi, sắc mặt hiện rõ vẻ nghiêm trọng khó che giấu:
Y lấy thẻ thân phận bằng bạc ra, đưa cho đối phương xem:
Viên sĩ quan lính gác cao cấp chăm chú nhìn thẻ thân phận của y, chiếc thẻ bạc có viền chỉ vàng độc nhất, ánh mắt thoáng lay động.
Nhưng thái độ của anh ta vẫn rất dứt khoát:
Người lính cao lớn ấy đứng nghiêm, ánh đèn từ trần hắt xuống tạo nên cái bóng trầm nặng mang theo áp lực, nét mặt lạnh lùng và nghiêm nghị:
Tân Hòa Tuyết và Yến Cức bị lính gác đưa ra ngoài.
Tất nhiên, cách đối xử giữa hai người là hoàn toàn khác biệt, Tân Hòa Tuyết được "mời" rời đi, còn Yến Cức thì bị hai lính gác giữ chặt tay, áp giải ra ngoài như một kẻ phạm lỗi.
Yến Cức: “……”
Sau khi bị đẩy ra khỏi lối vào tháp canh, Yến Cức dừng lại, hít một hơi rồi xoay xoay bả vai, nhéo cánh tay mình một cái như để xả tức. Quay đầu lại, hắn lườm hai người lính gác, cằn nhằn:
Hai lính gác nhìn hắn đầy nghi ngờ.
Trước mặt họ là một thanh niên tóc ngắn màu tro xám, có khuyên tai xuyên qua d** tai, khuyên tai màu lam ngọc được kẹp ở sụn tai. Trên môi hắn là nụ cười nửa hờ hững, nửa ngông cuồng.
Bắc Mạc không lớn. Hầu hết lính gác đã phục vụ ở Bắc Cảnh sáu năm đều biết đến cái tên này, con của hai lính gác đã hi sinh trong nhiệm vụ bốn năm trước. Trên danh nghĩa, Yến Cức được quản lý bởi viện phúc lợi Bắc Mạc, nhưng thực tế lại sống một mình trong căn nhà cha mẹ để lại, thiếu vắng sự giám hộ của người lớn.
Một trong hai lính gác quay về tháp canh, không quên quay lại nhắc nhở Tân Hòa Tuyết:
Yến Cức: “……”
Tân Hòa Tuyết an ủi:
“Dù vậy, cũng không cần nói thẳng trước mặt tôi như thế.”
Yến Cức nhướn mày: “Tôi trông giống một tên lưu manh lắm à?”
Tân Hòa Tuyết không trả lời trực tiếp mà hỏi ngược lại:
Yến Cức: “…… Ừ.”
Màu tóc của hắn trùng khớp với màu của tinh thể tinh thần như một sự đồng điệu giữa thể chất và khí chất.
Tân Hòa Tuyết vươn tay ra, nhẹ chạm vào chiếc khuyên nơi tai Yến Cức:
Yến Cức nhướn mày:
Không hiểu vì sao, rõ ràng qua lớp găng tay dày, vậy mà Yến Cức vẫn cảm thấy nơi bị chạm vào như bốc lên hơi nóng mơ hồ.
Yến Cức không được tự nhiên, sờ sờ lỗ tai, hỏi nhỏ:
Tân Hòa Tuyết gật đầu:
Cuối cùng, họ được điều một chiếc xe việt dã bọc thép, loại xe quân dụng hạng nặng được ngụy trang đặc biệt. Trước đó, vì nhận nhiệm vụ từ Vệ Trạc, Tân Hòa Tuyết và Khuê Khắc từng cùng lái xe đến khu mỏ sắt An Kohl.
Một lính gác từ góc phòng bước ra. Chính anh ta là người đầu tiên đã thông báo cho Tân Hòa Tuyết về tình hình mất tín hiệu của những người kia.
“Tôi có thể giúp anh tìm được phương tiện di chuyển.”
Lúc còn ở trong tháp canh của phòng chỉ huy, Yến Cức đã nghe rất rõ người lính cao cấp ấy đang nghiêm khắc khiển trách những người khác. Bởi vì có một người lính đã tiết lộ với Tân Hòa Tuyết về tình trạng mất tín hiệu của nhóm Vệ Trạc, điều này trái hoàn toàn với dặn dò trước khi họ lên đường.
Ý thức được điều gì đó bất thường, ánh mắt Yến Cức trầm xuống, cười nhạt với người lính trước mặt:
Lúc này, sắc mặt hắn lạnh đi hẳn, đôi hàng mày kiếm vắt ngang khuôn mặt, khí thế toát ra không giống với một thanh niên bình thường. Từng lời từng chữ như hàm chứa băng giá, lạnh lẽo sâu sắc, tựa như con sói đầu đàn ẩn mình trong rừng, chỉ chực chờ lao ra tấn công.
Người lính ấy đã phục vụ ở Bắc Cảnh bốn năm, nhưng trán cũng bắt đầu rịn mồ hôi lạnh. Anh ta không nhận ra rằng áp lực mình cảm thấy thực chất là do năng lực chiến đấu cao vượt trội phát ra từ thanh niên trước mặt.
Bị một nhóc con hù dọa đến nỗi bối rối như thế quả là quá mất mặt. Anh ta nuốt khan, ngực phập phồng, cố lấy lại vẻ cứng cỏi:
.......
Lúc Tân Hòa Tuyết quay lại, trong tay y đã cầm chìa khóa xe.
Yến Cức vẫn đang đứng chờ bên ngoài. Trên vai hắn còn vương vài giọt nước tan từ tuyết rơi trên mái hiên.
Yến Cức:
Hắn vẫn luôn chú ý động tĩnh bên trong. Nếu có đánh nhau hay tranh cãi lớn gì, Yến Cức đã sớm xông vào rồi.
Tân Hòa Tuyết lắc đầu:
Trước đó, Tân Hòa Tuyết được phân công ưu tiên hỗ trợ khai thông cho những lính gác có mức ô nhiễm tinh thần từ 75% trở lên. Người lính kia chỉ bị ô nhiễm ở mức 70%, nên đã bị bỏ sót khỏi danh sách.
Yến Cức:
Hắn chưa từng trực tiếp chứng kiến quá trình khai thông tinh thần, chỉ nghe vài lời đồn đãi, biết rằng đó là một công việc cực kỳ áp lực và nặng nề đối với người dẫn đường.
Dù là thiên chức, cũng như lính gác phải chấp nhận xông pha giữa các gấp khu nguy hiểm, đổ máu và hy sinh. Nhưng trong ấn tượng của Yến Cức thì các dẫn đường vẫn luôn được coi là lớp người yếu đuối, được sống trong sự bảo vệ quý báu của Bạch Tháp, được đế quốc coi trọng. Ấy vậy mà họ lại thường vin vào lý do áp lực để trốn tránh nhiệm vụ khai thông.
Ấn tượng của Yến Cức về các dẫn đường luôn là như thế, yếu ớt và né tránh.
Nhưng sự xuất hiện của Tân Hòa Tuyết đã hoàn toàn làm sụp đổ định kiến ấy. Hắn chưa từng nghĩ việc khai thông tinh thần lại có thể diễn ra nhanh chóng như vậy, chưa đầy nửa tiếng đã xong.
Tân Hòa Tuyết dường như không cảm thấy việc ấy có gì to tát, y chỉ giải thích đơn giản:
Khi người dẫn đường có tinh thần lực cao hơn sức chiến đấu của lính gác, quá trình khai thông sẽ diễn ra dễ dàng hơn rất nhiều.
Điều này có nghĩa là… tinh thần lực của Tân Hòa Tuyết ít nhất cũng phải từ cấp B trở lên.
Yến Cức không nói gì thêm, chỉ lẳng lặng đi theo Tân Hòa Tuyết.
Tân Hòa Tuyết hơi nghiêng đầu nhìn:
Yến Cức:
Hắn không cho Tân Hòa Tuyết cơ hội từ chối. Đến khi hai người tới chỗ đỗ xe việt dã, ngay khi khóa xe được mở ra, Yến Cức đã nhanh hơn một bước, lập tức ngồi vào ghế lái.
Yến Cức:
“Tôi biết một vài đường tắt, vừa nhanh hơn, lại tránh được kiểm tra.”
Hắn quay đầu lại, biểu cảm nghiêm túc.
Tân Hòa Tuyết im lặng ngồi vào ghế phụ, nhưng vẫn có chút không yên tâm:
Yến Cức nhe răng cười, nụ cười mang theo vẻ kiêu ngạo trẻ con độc quyền ở lứa tuổi này:
........
Các khu vực nguy hiểm (gấp khu) trên bản đồ vệ tinh được phân chia thành từng ô nhỏ, dựa trên mức độ dao động năng lượng tại mỗi điểm. Mỗi ô đều được đánh số, đặt tên sơ lược, và được tiến hành đánh giá mức độ nguy hiểm dựa trên cường độ dao động năng lượng.
Cấp độ nguy hiểm của từng gấp khu được chấm điểm dựa theo dữ liệu thực tế, bao gồm số lần lính gác ra vào khu vực và tình trạng trung bình của các bệnh nhân họ tiếp xúc. Từ thấp đến cao, các khu được phân loại thành: C, B, A và S cấp.
Ý nghĩa ẩn sau những cấp bậc này là: sức chiến đấu trung bình của đội lính gác có thể an toàn rút lui khỏi khu vực. Mà cái gọi là “an toàn rút lui” ở đây, đôi khi chỉ đơn giản là… giữ được mạng sống, chưa chắc đã còn đủ tay chân.
Với các gấp khu vượt quá cấp S, do mức năng lượng dao động quá lớn và không thể giám sát chính xác, chúng sẽ được đánh dấu trên bản đồ là “Không rõ” hoặc “Phong tỏa”.
Trước đây, tiểu đội Ngân Kim mà Tân Hòa Tuyết từng thuộc về đã bị tổn thất nặng nề tại gấp khu rừng mưa số 22. Đó là nơi họ đã mất đi trụ cột đội hình Hạ Bạc Thiên, và kết cục là đội phải giải tán.
Ban đầu, rừng mưa số 22 chỉ được đánh giá là cấp A, nhưng đây lại là khu vực nguy hiểm lớn nhất tại Tây Cảnh (ngoại trừ những khu "Không rõ" và "Phong tỏa"). Do Tây Cảnh có nguồn tài nguyên phong phú, nên đế quốc đã lên kế hoạch chinh phục khu vực này từ lâu, và đợt đó họ đã cử một đội có tổng hợp chiến lực mạnh nhất tiến vào.
Thế nhưng, ngay khi Tân Hòa Tuyết và các đồng đội đặt chân vào khu vực, đội máy bay không người lái sẵn sàng ứng cứu từ trên không lập tức bị nhiễu loạn bởi từ trường bất thường, khiến toàn bộ thiết bị rơi rụng.
Dao động năng lượng cũng nhanh chóng tăng vọt một cách chưa từng thấy, chỉ trong chớp mắt đã vượt qua ngưỡng đánh giá cấp A.
Cuối cùng, chính Tân Hòa Tuyết đã đóng cửa được cổng vào khu vực ấy, đưa rừng mưa trở lại trạng thái sinh thái bình thường. Nhưng cái giá phải trả cho hành động đó vô cùng đau đớn, một lính gác cấp 3S và một lính gác cấp A hy sinh, còn người dẫn đường duy nhất cấp 3S thì sức khỏe suy kiệt nghiêm trọng.
Kể từ sau sự kiện đó, đế quốc trở nên vô cùng thận trọng khi đối mặt với bất kỳ gấp khu cấp A nào. Bởi vì không ai có thể bảo đảm rằng những gấp khu tưởng như "chỉ là cấp A" ấy sẽ không đột ngột biến đổi, vượt khỏi giới hạn dao động năng lượng.
Lần này, địa điểm Tân Hòa Tuyết muốn đến chính là điểm giao giữa tuyến đường sắt nối liền mỏ quặng An Kohl với Bắc Cảnh. Tín hiệu của chuyến tàu vận chuyển quặng đã bị mất ngay tại đó.
Y đã đọc qua tài liệu mà Vệ Trạc để lại.
Đây là chuyến tàu chở quặng đầu tiên trên tuyến này, chuyên chở tới bốn vạn tấn hàng hóa. Do khối lượng quá lớn, nó cần đến bốn đầu máy kéo, hai ở hai đầu tàu, hai ở giữa, với tốc độ trung bình là 54 km/h, chậm và ổn định hơn tàu thường.
Nhưng dù vậy, theo khoảng cách tính toán, chuyến tàu chỉ mất khoảng hai tiếng rưỡi để về đến Bắc Cảnh.
Thế nhưng, nó đã dừng lại giữa đường, và tín hiệu cũng hoàn toàn biến mất.
Hai bên đường sắt là dãy núi chạy dài về hướng tây bắc, cấp độ gấp khu nơi đó chỉ ở mức C, cao nhất là B. Nhưng Tân Hòa Tuyết vẫn cảm thấy có điều gì đó bất thường.
Y chia sẻ lại toàn bộ tình hình này với Yến Cức, rồi nói thêm:
Nếu như khu vực gấp khu kia đột ngột thay đổi, giống như rừng mưa năm đó, bùng phát vượt ngoài ngưỡng thì Vệ Trạc và Khuê Khắc, những người đang ở gần khu vực, rất có thể gặp nguy hiểm nghiêm trọng. Nhất là khi Vệ Trạc vốn đã có mức ô nhiễm tinh thần cao.
Trong điều kiện chiến đấu khốc liệt, nếu mức ô nhiễm tăng thêm 10%, thì khả năng mất kiểm soát và tự bạo tuy thấp nhưng không phải là không thể xảy ra.
Đó là lý do vì sao Tân Hòa Tuyết khăng khăng phải đến đó trước.
Trong đó, có lẽ y cũng muốn tranh thủ thử nghiệm một chút về giá trị tình yêu mà Yến Cức dành cho mình. Dù sao, trong môi trường nguy hiểm, hiệu ứng “cầu treo” luôn là một kỹ xảo tốt để thúc đẩy cảm xúc.
Tuy nhiên, đây chỉ là một phần rất nhỏ trong động cơ của y. Bởi vì khi đối mặt với nguy hiểm thực sự, Tân Hòa Tuyết rất ít khi mạo hiểm cảm xúc hay dùng đến chiến thuật k*ch th*ch tình yêu, trừ khi…y đã kích hoạt chế độ vô cảm, rút lui khỏi thế giới nhỏ.
Yến Cức chăm chú nhìn tình hình giao thông phía trước. Bầu trời âm u, chạng vạng đã gần kề. Ánh đèn xe trắng nhạt soi rọi con đường như ban ngày. Hai bên đường, những cành cây vươn dài như những ngón tay xương xẩu, lắc lư giữa màn đêm, trông như những bộ xương khô cào rạch không trung.
“Anh có thể chợp mắt một lát.” – Yến Cức lên tiếng, suy xét đến việc Tân Hòa Tuyết vừa trải qua đợt khai thông tinh thần, hẳn đã hao tổn không ít sức lực nên đưa ra ý kiến, “Khi nào gần tới, tôi sẽ gọi anh dậy.”
Tân Hòa Tuyết nghe theo, nhắm mắt nghỉ ngơi.
……
“Tân Hòa Tuyết!”
“Tân Hòa Tuyết!”
Y giật mình tỉnh lại, vừa mở mắt liền đối diện với ánh mắt nghiêm túc của Yến Cức.
Tân Hòa Tuyết liếc nhìn đồng hồ trong xe. Hóa ra y chỉ mới ngủ được chưa đến hai mươi phút.
“Nhanh vậy đã đến nơi rồi sao?”
Giọng Yến Cức nghiêm nghị:
Yến Cức:
Cả hai cùng xuống xe quan sát. Trong ánh trăng lạnh lẽo, tiếng cửa xe đóng lại vang lên khô khốc, nghe rõ mồn một.
Bước chân giẫm trên mặt đất lổn nhổn sỏi đá, hai bên là rừng cây âm u lạnh lẽo.
Đèn pha bật sáng hết cỡ, ánh sáng trắng gay gắt xé toạc bóng tối ——
Một đoàn tàu vận chuyển quặng sắt khổng lồ đang đứng sừng sững trước mặt bọn họ. Thân tàu phủ đầy rêu xanh, lớp sơn đỏ từng mảng bong tróc như vảy sắt rỉ.
Một cơn gió lặng lẽ lùa qua từ sau lưng, mang theo cảm giác lạnh buốt dọc sống lưng.
Tân Hòa Tuyết xác nhận mã số trên thân tàu:
Y bình tĩnh dặn dò Yến Cức:
Tân Hòa Tuyết vẫn tin tưởng vào thực lực chiến đấu cấp 3S của Yến Cức.
Yến Cức: “Ừm.”
Tân Hòa Tuyết bước vào khoang điều khiển thứ nhất.
Cấu trúc trong đây không khác gì tàu hỏa thông thường. Trên bảng pha lê phía trước có gắn dòng chữ lớn: "Chú ý quan sát", phía dưới là dòng nhỏ hơn: "Kiểm tra cần gạt nước khí nén."
Động cơ điều khiển nằm cạnh ghế lái, trước ghế là bàn điều khiển cần thao tác tỉ mỉ.
Ngoại trừ việc không có ai và thiết bị đã cũ kỹ, mọi thứ còn lại đều bình thường.
Tân Hòa Tuyết đứng trước bảng điều khiển pha lê, ngẩng đầu nhìn ra ngoài là một vầng trăng tròn sáng bạc, sắc trời như ngưng đọng lại.
Đột nhiên, trong không khí vang lên tiếng tru dữ dội, tiếng hú dài như sói tru giữa đêm rừng.
Giọng Yến Cức vang lên lạnh lùng:
Tân Hòa Tuyết nghe tiếng, lập tức quay đầu lại, một con sói lớn đang lao thẳng về phía y!
Sau lưng nó là một lớp sương xám mờ đục, chính là loại sương đặc trưng chỉ xuất hiện trong các gấp khu.
Y thấy rõ trong sương mù là các bào tử và bụi phấn bay lượn. Đây chắc chắn là sinh vật đột biến từ gấp khu ngoại vi lan ra!
Đôi mắt Tân Hòa Tuyết khẽ nheo lại.
Con sói phóng đến, lưỡi thè dài, đuôi quẫy vù vù như roi gió, tốc độ quất đuôi còn nhanh hơn cả cần gạt nước xe!
Nó mang theo ý đồ khiến người khác mất cảm giác phòng bị, rồi lao tới tấn công.
Tân Hòa Tuyết và Yến Cức chạm mắt nhau.
Yến Cức mặt không đổi sắc, khô khốc giải thích:
Tân Hòa Tuyết rũ hàng mi dài, giọng nhàn nhạt đáp:
Yến Cức: “…Vậy....Gâu?”
Quả thật, nó chính là chú chó mà Tiểu Tuyết từng nuôi.
Đợi đến khi người đàn anh thân thiết gặp được Yến Cức lái xe đưa Tiểu Tuyết đến khu vực gấp khu, hắn sắp hóa thân thành chiến sĩ rồng bất khả chiến bại. Người đàn anh bảo thủ kia coi như xong rồi.