Thấy Tân Hòa Tuyết im lặng, gương mặt trắng nõn của y ẩn khuất trong chiếc áo choàng rộng, dưới bóng râm của vành nón rộng che khuất nửa ánh nhìn.
Lahotep mỉm cười, ôn hòa nói:
“Iah, đừng lo lắng. Nếu đó là ý nguyện của ngài, tôi đương nhiên sẽ để hắn ở lại. Chỉ là muốn trở thành người có tư cách ở bên cạnh thần sứ, bảo vệ ngài, thì năng lực hắn phải trải qua sự kiểm tra của Thần Mặt Trời.”
Vị vương trẻ tuổi của Thượng Ai Cập ấy mang trong đôi mắt sắc tím xanh cùng một màu với mẫu thân mình. Khi hắn mỉm cười, những đường nét tuấn tú càng trở nên ôn hòa, nhân hậu. Ánh nắng vàng kim xuyên qua những kẽ cột của của tòa nhà, chiếu lên thân hình rắn rỏi của hắn, như tạo nên những hoa văn thanh thoát trên cơ bắp của hắn như thể phủ lên người một tầng hào quang mạ vàng, khiến khí phách của hắn càng thêm uy nghi, rực rỡ.
Khí chất và dung mạo của hắn hoàn toàn phù hợp với hình tượng vị quân vương mà dân sông Nin tôn sùng: văn võ song toàn, nhân từ độ lượng. Bảo sao khi hai miền Thượng – Hạ Ai Cập thống nhất, lòng người lại nghiêng hẳn về phía Thượng Ai Cập.
Lahotep tiếp lời:
“Saito là chiến binh quả cảm và thiện chiến nhất trong giới quý tộc Thượng Ai Cập. Ngay cả đội trưởng đội cận vệ hoàng cung cũng không phải đối thủ của hắn.”
“Nếu người nô lệ đến từ Nubia này thật sự muốn ở lại, tôi sẽ xóa bỏ thân phận nô lệ của hắn, và sắp xếp cho hắn một vị trí thích hợp trong cung. Nhưng hắn có thể chỉ là một tùy tùng trầm lặng, hay trở thành binh sĩ bảo vệ an toàn cho thần sứ, điều đó còn phải xem thực lực của hắn.”
Thấy Tân Hòa Tuyết vẫn không phản đối, Lahotep đưa mắt nhìn người nô lệ đến từ biên giới phía nam kia, giọng trầm xuống:
“Hãy dâng lên Thần Mặt Trời toàn bộ sức mạnh của ngươi, để xem liệu ngươi có xứng đáng được ở lại bảo hộ thần sứ hay không.”
Nubu cúi đầu, đáp khẽ:
“Vâng.”
Lahotep gọi lớn:
“Saito.”
Người đàn ông mang chiếc mặt nạ đen, trầm mặc bước ra từ phía sau. Ở thắt lưng hắn đeo một thanh đoản kiếm sắc bén, lưỡi cong uốn lượn, mép ngoài ánh lên như trăng non lạnh lẽo.
Người hầu dâng đến cho cả hai bộ giáp nhẹ, đồng thời đưa cho Nubu một thanh đoản kiếm tương tự.
Căn phòng mà quan giám sát chuẩn bị cho pharaoh dùng tạm ở Aswan rộng lớn chẳng kém một cung điện nhỏ. Trong sân có đủ không gian để hai chiến binh dũng mãnh quyết đấu.
Nubu khom gối, nghiêng người, bàn chân cọ xát lớp cát mịn dưới nền, phát ra tiếng sột soạt khô khan. Trọng tâm cơ thể hắn dồn vào chân phải, sẵn sàng ứng chiến.
Khi mây trắng trôi qua che khuất đĩa mặt trời trong chốc lát, Saito cúi thấp người, là người đầu tiên tung ra đòn tấn công.
Thanh đoản kiếm trong tay hắn quét ngang vai Nubu, động tác sắc bén, nhanh nhẹn. Lưỡi kiếm chém qua không khí, vẽ thành một đường cong sáng loáng. Nubu không hề nao núng, chân trái đạp mạnh, thân hình nghiêng lướt sang bên, chỉ trong khoảnh khắc ngàn cân treo sợi tóc đã né được nhát kiếm sắc bén kia.
Trong cùng lúc tránh đòn, hắn nhanh chóng cúi người phản công, đoản kiếm quét ngang eo đối thủ. Saito nhanh chóng thu bụng, hạ thấp lưỡi kiếm đỡ lấy cú chém. Hai thanh kiếm va chạm nhau, tiếng kim loại sắc lạnh vang lên lanh lảnh, chấn động cả khoảng không nóng bỏng.
Mặt trời từ sau mây ló rạng, ánh nắng thiêu đốt tràn xuống, khiến cả sân phủ một lớp hơi nóng lấp loáng. Cát vàng như tan chảy, cảnh vật mờ đi giữa những bóng trắng chập chờn. Hai người quần nhau nhanh đến mức gần như khiến mọi thứ xung quanh mờ nhòe, chẳng phân biệt đâu là bóng đâu là người.
Saito chiến đấu với kỹ xảo tinh diệu tuyệt luân(*), nhưng điểm đáng sợ hơn cả là bản năng dã thú của hắn, thứ bản năng đã được rèn giũa qua vô số trận sinh tử trong tự nhiên. Hắn hành động không cần suy nghĩ, chỉ theo trực giác sắc bén hướng tới đối thủ.
(*) "Tinh diệu tuyệt luân" (精妙絕倫) là một cụm từ Hán Việt dùng để miêu tả một điều gì đó vô cùng tinh tế, khéo léo, đẹp đẽ, và không có gì sánh bằng, không gì hơn được.
Bản năng ấy là điều mà con người không thể luyện được bằng huấn luyện thông thường. Những quân sĩ trong doanh trại kinh đô, dù được huấn luyện qua bao nhiêu bài bản, cũng chỉ biết lặp đi lặp lại những chiêu thức tấn công và khống chế cơ bản, chứ không thể nào có được khí tức hoang dã đầy sát ý như Saito. Bởi vậy mà ngay cả đội trưởng đội cận vệ hoàng cung cũng từng bại dưới tay hắn.
Nhưng Nubu cũng không hề yếu kém. Dù đã giằng co hàng chục hiệp, hắn mới dần lộ ra dấu hiệu xuống sức.
Mồ hôi như hạt đậu lăn xuống từ thái dương, thấm ướt tóc mai.
Trong một lần đối đỡ, hai thanh kiếm lại va chạm, Nubu nghiến răng, dồn hết sức ép mũi kiếm của Saito xuống đất, định dùng lực áp chế đối phương. Thế nhưng Saito xoay cổ tay khéo léo, mượn thế phản công, chuôi kiếm bất ngờ đánh mạnh vào cổ tay Nubu, khiến thanh kiếm trong tay hắn chao đảo.
Saito chớp lấy cơ hội, xoay người một vòng nhanh như chớp, lưỡi kiếm lạnh lẽo đâm thẳng vào sườn Nubu. Nubu kịp thời hạ thấp người, lưỡi kiếm sượt qua đỉnh vai hắn, đồng thời hắn chộp lấy chân đối phương, kéo mạnh.
Cả hai cùng ngã xuống nền cát, bụi mù bốc lên. Lưỡi kiếm sượt qua cánh tay Saito, để lại một vệt máu mảnh. Nhưng chỉ trong tích tắc, hắn đã lăn người, quỳ gối ghì chặt Nubu dưới thân, đầu gối ép lên xương sườn, lưỡi đao cong lóe sáng lạnh kề sát yết hầu đối thủ.
Dưới lớp mặt nạ đen nhánh, đôi môi mỏng của Saito khẽ mím lại, lạnh lùng và cứng rắn, ánh mắt hắn hướng về phía đối thủ, sâu thẳm như vực tối.
Trong khoảnh khắc ấy, Nubu thoáng có cảm giác trong cuộc thử thách này, vị hoàng tộc trước mặt hắn dường như thực sự có ý định g**t ch*t mình.
Người Ai Cập hoàng tộc vốn nổi tiếng tàn nhẫn, điều này Nubu hiểu rõ từ lâu. Nếu không, năm đó, người mẹ Nubia của hắn đã chẳng phải hi sinh bản thân để đổi lấy cuộc hôn nhân hoà thân, rồi bị hãm hại trong chốn cung đình, chết trong nỗi uất ức và thương tâm. Trước khi qua đời, bà chỉ kịp giao đứa con trai sáu tuổi cho thị nữ thân cận, người đã cùng lớn lên bên bà, giúp ngụy trang đứa con của bà thành hoàng tử nhỏ chết yểu để giúp Nubu thoát khỏi hoàng cung.
Lý do Nubu nguyện đi theo vị thần sứ trở lại hoàng cung, một phần là vì không muốn nhìn thấy bi kịch từng xảy ra với mẹ mình lặp lại trên người vị thần sử yếu mềm ấy. Không muốn thần sứ lâm vào vũng bùn của hoàng tộc Ai Cập, phần khác là để điều tra chân tướng về cái chết của mẫu thân năm xưa.
Khi ấy hắn còn quá nhỏ, nhưng vẫn nhớ rõ mẹ hắn là người phụ nữ khoan dung và lạc quan, luôn làm cho hắn món bánh mì mật ong và mứt táo ngọt dịu, vừa hát khe khẽ những khúc ca Nubia cũ. Mỗi lần nhớ lại, Nubu càng thêm khẳng định: cái chết của mẹ hắn năm đó tuyệt đối không bình thường.
Saito im lặng đứng lên.
Hắn liếc nhìn Lahotep, rồi ánh mắt dừng lại trên người Tân Hòa Tuyết. “Tôi đã thắng,” hắn nói, giọng đều và lạnh, không hề dao động.
Tân Hòa Tuyết nhìn hắn, trong đôi mắt màu nâu ánh vàng như thấy một điều gì mơ hồ khó tả.
Lahotep mỉm cười, vỗ tay nhè nhẹ:
“Một trận đấu thật xuất sắc. Ngươi tên là gì?”
Cùng lúc đứng dậy, Nubu cúi người hành lễ, mồ hôi chảy dọc theo những đường cơ bắp rắn chắc trên lưng, ánh lên dưới nắng.
“Thần là Nubu.”
Lahotep:
“Ngươi cũng không tồi. Có thể chống đỡ được mười hiệp trước Saito đã là thành tích hiếm có. Đến lúc đó, ta sẽ lệnh cho đội trưởng hộ vệ sắp xếp ngươi vào hàng ngũ chịu trách nhiệm bảo vệ an toàn cho thần sứ trong cung.”
Một trận quyết đấu và Nubu đã danh chính ngôn thuận bước chân vào hoàng cung Thebes.
Lahotep không vì cái tên ấy mà động lòng hay nhớ lại điều gì. Phụ vương hắn để lại mấy chục người con, một vị vương tử dòng dõi Nubia chết yểu chẳng đủ khiến hắn bận tâm, càng không thể chiếm lấy một góc trong ký ức hắn.
Tuy nhiên, có một chi tiết khiến Lahotep thoáng chú ý.
Khi cả hai ngã xuống đất cùng lúc, với thực lực của Saito, lẽ ra hắn có thể dễ dàng né được đòn của Nubu, đánh bại đối thủ mà không bị thương.
Thế nhưng, trên cánh tay hắn lại xuất hiện một vết thương đỏ rực, chứng tỏ vị hoàng tộc này đã sơ suất trong trận đấu.
Là do khinh địch chăng?
Lahotep liếc nhìn về phía Saito.
Saito cúi đầu, đưa cánh tay có vết thương đỏ thắm ra trước Tân Hòa Tuyết:
“Nephthys, tôi bị thương rồi.”
………
Lahotep lập tức sai Saito cùng hai thị vệ khác đi trước, dùng thuyền nhỏ trở về kinh đô.
Nếu đi theo thuyền tuần du của Pharaoh, phải mất đến bảy ngày đêm mới có thể từ Aswan trở về Thebes. Mà Pharaoh cần có người đại diện ý chỉ của mình, sớm quay về để loan tin thắng lợi và nghênh đón thần sứ từ Thượng Ai Cập.
Cánh tay Saito đã được xử lý bằng thảo dược, băng vải quấn chặt quanh làn da màu đồng cổ.
Hắn tỏ ra nôn nóng, ánh mắt thấp thoáng lo âu khi nhìn về phía Tân Hòa Tuyết.
“Nephthys…”
Lahotep bật cười khẽ, nửa như châm chọc:
“Em nên học cách cai sữa rồi, Saito.”
Nghe kỹ, trong giọng hắn ẩn ý trêu đùa, song trên gương mặt vẫn giữ vẻ ôn hòa quen thuộc, như thể câu nói vừa rồi chỉ là lời bông đùa vô tâm.
Saito quay đầu, thoáng nhìn Lahotep trong chớp mắt.
Hắn cần phải tỏ ra như một con người hoàn chỉnh, chỉ khi ấy mới có thể bước ra khỏi chiếc lồng đồng giam cầm.
Đó là điều kiện mà hắn đã hứa với Lahotep. Bởi vậy, sau khi phụ thân chết, hắn mới từ nhà giam bước ra thế giới bên ngoài.
Bởi Saito không muốn, như những con báo hay sư tử trong chuồng ở vườn thú, chết mòn trong song sắt.
Khi đặt chân lên con thuyền nhỏ giữa dòng Nin, hắn quay lại, hướng về phía bờ nơi vị thần sứ vẫn đứng trên thuyền Pharaoh mà nói:
“Tôi bắt đầu nhớ người rồi, Nephthys.”
Nỗi nhớ dù chỉ là khi không thể nhìn thấy người ấy, vẫn luôn hiện hữu từng khắc từng giây.
Nhưng cũng may, chẳng bao lâu nữa, họ sẽ lại gặp nhau ở hoàng cung Thebes.
Dưới ánh nắng rực, vị thanh niên nơi bờ khẽ nâng vành nón rộng, ánh sáng chiếu lên mu bàn tay trắng mịn, hồng lên trong nắng. Đón ánh sáng, y ngẩng đầu, đôi môi mỏng khẽ mấp máy, nói:
“Hãy cẩn thận nhé, coi chừng cá sấu sông Nin.”
Một lời dặn dò như người mẹ ân cần nói với đứa con chuẩn bị lên đường xa.
【 Giá trị tình yêu của Saito Anubis +5 】
........
“Saito là một trong số hai mươi người anh em của tôi.”
Lahotep bình thản nói, như thể đang kể lại một câu chuyện cũ.
Vị Pharaoh đời trước, hiển nhiên là người có sức lực vượt xa người thường. Trong thời kỳ hưng thịnh, khi bận rộn chinh chiến khắp nam bắc và cho xây dựng những ngôi đền vĩ đại, ông vẫn không quên nạp thêm hàng chục phi tần, có công chúa hòa thân từ các quốc gia lân cận, có tiểu thư quý tộc trong nước. Cuối cùng, ông để lại cho ngai vàng một hàng hậu duệ đông đảo: hai mươi người con trai và mười sáu người con gái.
“Saito là trường hợp khá đặc biệt,” Lahotep tiếp lời. “Mẹ hắn vốn chỉ là một nữ nô trong cung của mẫu thân ta.”
Khi ấy Lahotep mới chỉ sáu, bảy tuổi, nhưng ký ức vẫn còn rõ ràng.
“Hắn sinh ra vào đêm trăng đỏ. Ánh trăng đỏ phủ kín cả hoàng cung. Trên bờ đông Abydos ở sông Nin, dòng nước đột nhiên chảy ngược trong giây lát. Ở tận đền thần Anubis trên bán đảo Sinai, pho tượng thần giữa điện thờ lại tách ra làm đôi.”
“Các tư tế kinh hãi vô cùng, cho rằng đó là điềm báo Anubis đã gửi linh hồn mình xuống thế gian, và linh hồn ấy chính là đứa trẻ vừa chào đời - Saito.”
Lahotep dừng một lát.
“Mẹ hắn sau khi sinh nở thì qua đời, linh hồn đã yên nghỉ nơi cánh đồng lau sậy. Vì thế, từ khi ra đời, Saito đã được đưa đến bên phụ vương, chưa từng có tình thương mẫu tử nuôi nấng.”
Lông mi Tân Hòa Tuyết rũ xuống, vành nón rộng hắt bóng mờ lên khuôn mặt trắng nhạt của y.
Lahotep không nhìn thấy rõ biểu cảm, chỉ nhẹ giọng nói:
“Vì vậy, đôi khi hắn có thể làm ra những việc khác thường. Nếu hắn có mạo phạm ngài…”
Thực ra, từ sau khi Saito được đưa ra khỏi chiếc lồng giam bằng đồng, hắn đã trải qua một quá trình giáo dục quý tộc khắt khe, chưa từng để mất kiểm soát lần nào.
Dẫu thế, Lahotep vẫn nghiêm giọng dặn dò:
“Nếu hắn thất lễ với ngài, hãy quát lớn gọi thị vệ, họ sẽ lập tức khống chế hắn.”
Người thần sứ khoác áo choàng trắng đứng trên boong thuyền Pharaoh, dáng vẻ điềm tĩnh, không hề tỏ ra bối rối vì lời cảnh báo ấy.
Thấy vậy, Lahotep thôi không nhắc đến Saito nữa, đổi giọng hỏi:
“Ngài có nhắc đến hai thứ gọi là… rễ sắn và hoàng liên. Đó là gì?”
Tân Hòa Tuyết rốt cuộc ngẩng đầu nhìn hắn.
Quả nhiên, ngay từ đầu, vị vương trẻ tuổi, ôn hòa này đã cử người giám sát từng hành động của y.
Hai loại dược thảo đó, y chỉ vô tình nhắc tới trong lúc chữa vết thương do móng vuốt bạc cào trên cằm Saito. Khi ấy, Saito mải mê trong ý nghĩ muốn lưu lại dấu ấn của Nephthys, xung quanh lại có mấy người hầu, nếu không phải là người của quan giám sát mỏ an bài, mà là người của Lahotep, thì chuyện bị truyền tới tai Lahotep cũng chẳng có gì lạ.
Tân Hòa Tuyết không vạch trần, chỉ nhẹ nhàng đáp:
“Cả hai đều là dược liệu quý hiếm, đến từ một vùng đất rất xa ở phương Đông.”
Lahotep nhạy bén hỏi:
“Phương Đông… Đó là nơi ngài đến, phải không?”
Rõ ràng, vị Pharaoh Thượng Ai Cập này không giống các tín đồ và quan lại mê muội trong những lời tiên tri của tảng đá.
Lahotep không tin vào thần linh hoặc đúng hơn, hắn không hoàn toàn tin tưởng. Hắn cho rằng, các vị thần chẳng hề toàn năng như người đời tưởng tượng.
Ngay cả phụ vương hắn, người từng tự xưng là hóa thân của thần Osiris trên nhân gian, cũng yêu thích giết chóc. Khi nghe nói có một thần minh tái sinh khác xuất hiện, ông ta liền giam người đó trong ngục. Đền thờ Anubis ở thành Khuyển cũng bị ông ra lệnh thanh trừng, chỉ vì các tư tế không bảo vệ được tượng thần.
Lahotep hiểu rất rõ ý đồ của phụ vương mình.
Vương quyền của Pharaoh là tối thượng, làm sao có thể dung chứa thêm một “thần” khác trên thế gian này, để rồi lung lay địa vị của mình?
Hắn cụp mắt, khi nói chuyện cùng vị thần sứ đến từ vùng đất xa lạ kia về dược thảo phương Đông.
Như sực nhớ ra điều gì, Lahotep khẽ nói:
“Năm ngoái, có một sứ giả từ phương nam cống nạp vài loại thực vật quý hiếm cho Ai Cập, nghe nói cũng có được từ phương Đông, số lượng rất ít. Nhưng khi trồng trong vườn thượng uyển, chẳng bao lâu chúng đã khô héo.”
Lúc ấy, người hầu phụ trách trồng trọt hoảng hốt báo tin cho hắn.
Tân Hòa Tuyết chậm rãi đáp:
“Có lẽ là vì khí hậu và độ ẩm nơi đây không thích hợp cho những loài cây ấy sinh trưởng. Cần dựng một nơi đặc biệt để nuôi dưỡng chúng, gọi là nhà kính.”
“Nhà…kính?”
Lahotep lặp lại, dường như đây là lần đầu tiên hắn nghe thấy từ ấy.
………
Ở Ai Cập cổ đại, người ta chưa từng biết đến khái niệm nhà kính. Vì vậy, Tân Hòa Tuyết chỉ có thể cố gắng giải thích cho Lahotep hiểu rằng đó là một loại kiến trúc đặc biệt, dùng để bảo vệ cây cối khỏi cái nắng gắt cùng gió cát khốc liệt của sa mạc. Nhà kính được xây bằng gạch đất hoặc tường đá, có khả năng cách nhiệt, giúp duy trì nhiệt độ ổn định bên trong. Dựa vào điều kiện tự nhiên của vùng đất này, người ta còn có thể xây trong đó một hồ nước nhỏ, để hơi nước bốc lên làm tăng độ ẩm không khí. Ngoài ra, hệ thống tưới bằng bình gốm có thể từ từ thấm hơi nước, giúp giữ cho đất luôn ẩm ướt.
Dĩ nhiên, xét đến đặc tính khác nhau của từng loại thực vật, khi thực hiện thực tế chắc chắn vẫn sẽ nảy sinh nhiều vấn đề.
Tân Hòa Tuyết chỉ là đang cung cấp cho Lahotep một hướng suy nghĩ, một cách tiếp cận khả thi, bao gồm cả việc cải tiến hệ thống kênh đào và đê điều ở Thượng Ai Cập. Đó là những công trình phức tạp, không thể giải thích rõ ràng chỉ trong một chốc một lát. Vì vậy, y bày tỏ rằng cần phải khảo sát thực địa tình hình Thượng Ai Cập, rồi mới có thể đưa ra biện pháp cải tiến cụ thể.
Dù chỉ là đôi câu đơn giản, nhưng những từ ngữ y nhắc đến như bê tông, phao van, đê nhiều tầng đã khiến Lahotep thán phục không thôi.
Tuy nhiên, hắn không có thời gian để bàn sâu với Tân Hòa Tuyết về những nội dung đó, ngay cả khi đang ở trên bàn ăn.
Cho đến chiều ngày thứ bảy, khi hoàng hôn buông xuống, con thuyền tuần du mới chậm rãi cập vào bờ tây Thebes. Những tòa cung điện sừng sững nơi xa, dưới ánh tà dương, phác họa nên một khung cảnh tráng lệ, uy nghiêm.
Khi thuyền dừng hẳn, Lahotep vừa giới thiệu về kinh đô huy hoàng này cho Tân Hòa Tuyết, vừa nói chuyện đến khô cả cổ.
Một người hầu tiến lên, cung kính dâng rượu nho:
“Pharaoh vĩ đại, thần sứ tôn kính, đây là rượu nho mới ủ.”
Kỹ thuật ủ rượu nho ở Ai Cập cổ đã đạt đến trình độ nhất định, nhưng loại rượu này thường không được lọc hay làm trong, nên rượu đục, còn cặn men, thịt quả và tạp chất. Hương vị khá thô, thiếu đi sự thanh nhẹ dễ chịu. Hơn nữa, thời gian lên men ngắn khiến đường chưa chuyển hóa hết thành cồn, dẫn tới rượu có vị ngọt gắt và độ cồn thấp.
Tân Hòa Tuyết, trong khoảng thời gian ở đây, đã hiểu rõ điều đó, nên chỉ nhấp môi hai ngụm rồi thôi.
Lahotep hỏi:
“Không hợp khẩu vị sao?”
Tân Hòa Tuyết ngẫm nghĩ một chút. Tuy y chưa đủ điểm để tạo ra một con đê hoàn chỉnh, nhưng để đối phương nếm thử hương vị rượu nho đời sau thì cũng không phải việc khó.
Y khẽ vận dụng điểm tích lũy, rút từ trong áo choàng ra một bình thủy tinh màu lam sẫm, rót thứ chất lỏng óng ánh ấy vào ly của Lahotep.
Từ trong ly, mùi hương phức hợp lan tỏa, không chỉ có hương nho, mà còn thoang thoảng mùi bạc hà và đinh hương.
Tân Hòa Tuyết mỉm cười nói:
“Mời ngài nếm thử.”
………
Khi thuyền cập bờ tây, bước xuống bến, Lahotep cho các thị vệ lùi lại phía sau, giữ khoảng cách chừng ba mét với mọi người, chỉ cùng Tân Hòa Tuyết sóng vai tiến bước.
“Lên men là gì vậy?”
Lahotep hỏi, ánh mắt thoáng ngờ vực, lặp lại từ ngữ vừa nghe từ thần sứ.
Tân Hòa Tuyết đang định giải thích thì bỗng nhiên cảm thấy sau lưng có một luồng ánh nhìn mạnh mẽ như muốn xuyên thấu qua mình. Y lập tức quay đầu tìm kiếm.
Không thấy ai cả.
Nhưng ngay khi y vừa quay đầu lại, trong đám cỏ papyrus ven sông bỗng lóe lên ánh vàng rực rỡ và một con rắn trườn vụt ra!
Ánh sáng ấy đến từ lớp vảy của nó. Con rắn dựng thẳng người, cổ bè ra thành chiếc “mào” đặc trưng, hàng vảy vàng óng tỏa sáng như một cây quạt mở rộng. Nó uốn mình tiến về phía trước, phát ra tiếng rít trầm thấp, đáng sợ.
Sắc mặt Tân Hòa Tuyết lập tức tái nhợt, đồng tử mắt mèo co rút lại như một đường dọc mảnh.
Một con rắn hổ mang đang lao thẳng về phía họ!
Ngay tức khắc, các thị vệ ồ ạt xông tới, chen chúc giữa tầm nhìn. Từ phía bên kia sông chỉ còn thấy con rắn hổ mang vươn người phóng tới, còn bóng áo choàng trắng khẽ lắc lư, rồi đổ xuống.
Giọng Lahotep vang dội, lo lắng gọi:
“Iah!”
“Thần sứ đại nhân!”
“Thần sứ đại nhân!”
Mọi người hốt hoảng chạy đến vây quanh.