Chứng Bệnh Khiến Vạn Người Say Đắm Giữa Chốn Quyền Uy

Chương 146

Tân Hòa Tuyết đã lâu rồi không còn gặp phải tình huống nào cần vận dụng đến kiến thức khoa học tự nhiên. Tuy rằng khi còn ở tiểu hành tinh, hay trong quãng thời gian mang thân phận thái tử, mỗi ngày y đều phải học hành nặng nề, nhưng nếu so sánh, những chuyện khi ấy thậm chí đã cách bốn thế giới về trước.

 

Hiển nhiên, nội dung nhiệm vụ lần này của y không có nhiều chỗ để phát huy tri thức khoa học, vốn dĩ cũng chẳng phải sở trường của y.

 

Bởi vậy, khi nhìn thấy sân huấn luyện phía xa, nơi cỏ khô dưới ánh mặt trời vàng rực như sắp bị bén lửa, Tân Hòa Tuyết mới chợt nhớ ra, còn có thể dùng vật liệu thay thế để tạo ra chất kiềm nhân tạo.

 

Trong thời đại mà người ta vẫn còn đốt rẫy để gieo hạt, thì tro thực vật chính là món quà tốt nhất mà thiên nhiên ban tặng.

 

Dĩ nhiên, đối với những cư dân sống dựa vào con sông Nin, nơi mỗi năm nước lũ lại có chu kỳ dâng tràn, mang theo phù sa màu mỡ, họ vẫn chưa hình thành ý thức “khai hoang để cải thiện độ phì nhiêu của đất”. Kỹ thuật nông nghiệp đốt rẫy gieo hạt đối với họ mà nói, vẫn là một khái niệm xa lạ.

 

Tân Hòa Tuyết quay sang giải thích sơ qua với Vizier, hoàn toàn không để tâm đến hai người còn lại.

 

Từ góc nhìn của Saito và Anath, chỉ thấy dưới lớp áo choàng dài trắng muốt, bên dưới chiếc mũ trùm chỉ lộ ra phần cằm mảnh nhỏ, đường nét mềm mại, không mang vẻ cứng rắn thường thấy ở nam giới. Nếu nói theo cách của Anath, thì quả thật là mềm mại như phụ nữ.

 

Anath từng nghe Saito nhiều lần gọi người kia là “Mẫu thần”, có lẽ vị thần sứ xuất thân bí ẩn này, dưới lớp áo choàng kia, thực sự sở hữu thân thể mềm mại chẳng khác gì nữ nhân. Có lẽ đó cũng là lý do vì sao đối phương luôn che kín mình từ đầu đến chân.

 

Kẻ dám dùng lời lẽ bất kính để nói về một thần sứ như thế, lại là một kẻ mang dòng máu hoàng tộc kiêu ngạo, ắt hẳn cũng đang để mặc cho sự kiêu căng và khinh miệt của mình dẫn dắt.

 

Anath nhớ lại gương mặt thật của đối phương mà hắn đã thấy đêm qua, chiếc cằm nhỏ và chiếc cổ mảnh khảnh, làn da trắng đến mức thiếu cả sức sống. Trong mắt hắn, chỉ cần bất kỳ nữ vũ công Ai Cập nào với cánh tay rám nắng rắn chắc, cũng có thể dễ dàng khống chế được vị thần sứ này.

 

Một thần sứ như thế, không đáng để hắn sợ hãi.

 

Trong lúc Anath còn đang suy nghĩ, Vizier sau khi nghe Tân Hòa Tuyết giải thích lại tỏ ra quá mức phấn khích. Hắn ta phấn khích đến mức gần như muốn nắm lấy tay vị thần sứ kia để bày tỏ lòng cảm kích.

 

Nhưng Vizier rõ ràng đã quên rằng đối phương toàn thân đều được che kín dưới lớp áo choàng trắng.

 

Anath thấy Tân Hòa Tuyết theo phản xạ lùi lại một bước, chiếc mũ trùm khẽ rung theo động tác, và từ bóng tối bên trong, hắn thoáng thấy được đôi môi nhạt màu ẩn dưới tán nón.

 

Khoảnh khắc ấy, trong đầu Anath chợt hiện lên hình ảnh của đêm hôm trước, thứ rượu trong suốt ánh lên trên đôi môi ấy, như phủ một lớp sáng mờ khiến màu môi trở nên đỏ thắm hơn.

 

Thời tiết khô nóng khiến lòng hắn bỗng trở nên bức bối, khó chịu.

 

Vizier, khi bị Saito kịp thời chen vào giữa để ngăn lại, mới lúng túng nhận ra sự thất lễ của mình, vội rụt tay về.

 

Đôi mắt màu nâu vàng ẩn sau chiếc mặt nạ hình đầu chó của vị hoàng tộc kia chiếu thẳng vào hắn, như thể đang đối diện với một kẻ địch có thể gây nguy hiểm.

 

Vizier bất giác nhớ đến những lời đồn rùng rợn xoay quanh vị thần sứ này, mồ hôi trên thái dương lập tức rịn ra. May thay, đúng lúc ấy, Tân Hòa Tuyết cất tiếng, làm Saito tạm thời chuyển hướng chú ý.

 

Tân Hòa Tuyết hỏi:

 

“Vizier đại nhân, xưởng chế tác của thành Thebes ở đâu?”

 

………

 

Sau khi tân Pharaoh kế vị, kinh đô mới Thebes vẫn chưa hoàn toàn được xây dựng xong. Khắp nơi là công trình dang dở, từ kim tự tháp lăng mộ của Pharaoh, đền thờ Thần Mặt Trời đang thi công, cho đến hệ thống kênh dẫn nước phục vụ tưới tiêu và sinh hoạt cho toàn thành phố…

 

Dù là các xưởng thủ công hay những nghệ nhân hoàng gia được chuyển từ cố đô đến, tất cả đều được sắp xếp ở một ngôi làng nằm ngoài vùng mạch nước lớn của Thebes. Ngôi làng này được thành lập chuyên biệt cho những thợ thủ công phụ trách chế tác đồ vật cho lăng mộ hoàng gia và đền thờ.

 

Đường phố trong làng sạch sẽ, hai bên là những căn nhà thấp nhỏ san sát nhau. Tùy theo từng ngành nghề thủ công khác nhau, các xưởng cũng được phân khu rõ ràng.

 

“Leng keng keng”, “bốp bốp bốp bốp” — tiếng búa đập, tiếng đẽo gọt vang vọng không dứt trong không gian. Các học trò học nghề vác vật liệu đi lại trên con đường hai bên, vừa lúc gặp một đoàn người đang tiến đến.

 

“Ngài Anath cũng quan tâm đến kỹ thuật đúc pha lê sao?”

 

Nghe vậy, Anath khẽ nheo mắt nhìn người vừa lên tiếng, chính là kẻ hộ vệ đi theo thần sứ tối qua. Theo những tin tình báo mà hắn dò được, người này vốn là nô lệ được đưa từ mỏ đá đến, có đôi mắt vàng kim khác thường.

 

Một tù binh Nubia chăng?

 

Khóe môi Anath nhếch lên thành nụ cười lạnh, ánh nhìn khinh miệt không hề che giấu. Song, tầm mắt hắn lại vô thức lướt qua bóng áo choàng trắng đi phía trước.

 

“Hừm… Tôi chỉ muốn xem thử, vị thần sứ này có thật sự, như lời tiên đoán, sở hữu năng lực vượt ngoài con người hay không.”

 

Nubu vốn chẳng có chút thiện cảm nào với hoàng tộc Ai Cập, đặc biệt là vị quý tộc kiêu căng trước mắt, kẻ luôn mang theo ánh nhìn khinh miệt và tính khí ngạo mạn. Vì luôn cảnh giác, hắn cũng không tỏ ra bất thường trước những lời đầy mỉa mai kia.

 

Ánh mắt Nubu tối lại, bàn tay nắm chuôi kiếm khẽ siết chặt.

 

Xưởng pha lê tạm thời được cải tạo lại cho nhiệm vụ lần này. Ngay khi bước vào cửa, một luồng hơi nóng hừng hực phả thẳng vào mặt, như thể miệng lò đang há rộng, muốn nuốt trọn tất cả.

 

Tân Hòa Tuyết giơ tay che mặt tránh luồng nhiệt, được Nubu nhẹ nhàng đỡ lùi lại phía sau.

 

Chẳng mấy chốc, một thợ thủ công đã nhận ra họ, vội vàng lau mồ hôi trên trán rồi bước ra nghênh đón. Người này chính là thợ thủ công mà buổi sáng Vizier đã dẫn đến để học kỹ thuật đúc pha lê do Tân Hòa Tuyết truyền dạy.

 

Tân Hòa Tuyết đã cẩn thận ghi chép tỉ mỉ lại phương pháp luyện pha lê trên giấy cói và giao cho họ.

 

“Các vị đại nhân, không biết lần này đến có điều gì chỉ dạy thêm chăng?” – thợ thủ công vừa lau mồ hôi trên trán mình, giọng có phần ái ngại. “Bên trong rất nóng, khó mà đứng lâu. Nếu có chỉ thị gì, xin cứ nói trực tiếp, chúng tôi sẽ lập tức làm theo.”

 

Để làm tan chảy nguyên liệu pha lê cho đến khi trở thành dung dịch trong suốt, lò luyện phải đạt tới hơn tám trăm độ. Dù họ chỉ đứng ở cửa xưởng, hơi nóng hầm hập vẫn truyền qua không khí, khiến buổi trưa vốn đã oi ả lại càng ngột ngạt.

 

Vizier liền giải thích cho thợ thủ công rằng có thể dùng tro từ thực vật thay thế “chất kiềm tự nhiên” mà họ đấy thấy trên giấy cói. Người thợ liên tục gật đầu, cẩn trọng ghi chép lại từng chữ.

 

Đa phần thợ thủ công vốn chỉ hiểu mơ hồ về những thuật ngữ được chép trong bản giấy cói như “silic oxit” hay “oxy hóa kim loại”. Nhưng thần sứ đã kiên nhẫn giải thích rằng: silic oxit chính là thành phần có trong hạt cát, nếu thêm vào đó các loại kim loại khác nhau, sẽ có thể kiểm soát được màu sắc của pha lê, thêm đồng sẽ ra màu lam hoặc xanh lục, thêm sắt sẽ cho màu vàng hoặc xám…

 

Những khái niệm xa lạ ấy họ ghi nhớ cẩn thận, càng thêm tin tưởng rằng vị thần sứ này chính là hiện thân của ý chí thần linh. Chỉ có thần minh mới có thể hiểu thấu cách tạo vật sâu xa đến thế.

 

“Tro thực vật là nguyên liệu dễ kiếm, chỉ cần ba ngày là chúng ta có thể chế tạo được mẻ pha lê mẫu đầu tiên.”

 

Người thợ như chợt nhớ ra điều gì, bèn sai học trò trông coi lò luyện, rồi tự mình dẫn thần sứ cùng Vizier đến xưởng đất sét phía đối diện.

 

Vừa đi, hắn vừa nói:
“Thưa thần sứ, chúng tôi đang thử dùng đất sét để làm khuôn đúc, sau đó đổ dung dịch pha lê vào, chờ nó tự nguội mà tạo thành bình thủy tinh. Nhưng về hình dáng khuôn, chúng tôi vẫn còn vài điều băn khoăn.”

 

Tại xưởng, vài người thợ khác bưng ra những khuôn đất sét còn chưa kịp hong khô hay nung cứng, tất cả đều là bán thành phẩm, được tạo ra theo đúng bản vẽ mà Tân Hòa Tuyết đã phác thảo trên giấy cói.

 

Người thợ thành khẩn nói:
“Thần sứ đại nhân, chúng tôi hy vọng những khuôn đúc này có thể mang dấu ấn tượng trưng cho ý chí của thần minh, để khi hoàn thành, chúng trở thành vật phẩm thể hiện sự ban ân từ các ngài.”

 

Nghe vậy, Vizier tỏ vẻ tán thành:
“Quả là một ý tưởng tuyệt vời. Như thế, khi người đời nâng chén rượu trong chiếc bình thủy tinh này, họ cũng sẽ cảm nhận được sự chúc phúc đến từ thần linh.”

 

Mọi ánh mắt đồng loạt hướng về phía Tân Hòa Tuyết, sáng rực như thể chờ đợi điều gì sắp xảy ra.

 

Dưới chiếc mặt nạ hình đầu chó, Saito khẽ nhíu mày, đôi môi mỏng mím lại thành một đường thẳng tắp.

 

Vị thần sứ khoác áo choàng trắng gật đầu.

 

Từ phương bắc xa xôi, gió biển mang theo hương muối và cát vàng thổi tới, khiến hàng lá cọ đung đưa phát ra tiếng xào xạc. Trong ánh nắng vàng rực phản chiếu lên những bức tường xưởng, Tân Hòa Tuyết đứng ở trung tâm, khẽ nâng tay áo trắng rộng. Mọi người chỉ thấy ống tay áo ấy nhẹ nhàng phất qua bề mặt khuôn đất sét trước mặt.

 

Giây phút ấy, ở chính giữa khuôn đúc, hiện lên một dấu ấn kỳ lạ, họa tiết độc nhất vô nhị, chưa từng thấy trên đời.

 

Các thợ thủ công tròn mắt kinh ngạc, đồng loạt thốt lên:
“Thật là… một phép thần tích không thể tin nổi!”

 

Tiếng ca tụng vang lên khắp xưởng. Vizier cũng không giấu nổi vẻ thán phục. Còn vị “
thần sứ đại nhân vốn chỉ nổi hứng đùa vui một chút, giờ lại có phần bối rối. Dưới lớp áo choàng trắng, đôi tai mềm mại khẽ rung lên.

 

Nếu như ở Ai Cập cổ có tuyết rơi, chắc hẳn người ta sẽ dễ dàng liên tưởng đến họa tiết ấy, ví như trên con phố phủ đầy sương tuyết buổi sớm, dấu chân mèo in hằn nơi mặt đất, tựa đóa hoa mai nở giữa băng trắng.

 

Chỉ tiếc thay, trong điều kiện tự nhiên ở xứ sở này, điều đó là không thể. Mảnh đất này không bao giờ được tuyết trắng phủ đầy. Khi mèo nhẹ nhàng, uyển chuyển bước trên bờ cát. Những dấu chân mèo để lại trên cát vàng luôn bị gió sa mạc cuốn đi nhanh chóng, xóa sạch mọi dấu vết chỉ trong khoảnh khắc.

 

Thế nhưng, nhiều ngàn năm sau, khi các nhà khảo cổ khai quật dọc bờ sông Nin, họ sẽ phải kinh ngạc nhận ra: từ hơn một nghìn năm trước Công nguyên, nơi đây đã nắm giữ kỹ thuật đúc pha lê tinh xảo. Và kỳ lạ thay trên mỗi món đồ pha lê đều khắc cùng một ký hiệu.

 

Đương nhiên, chẳng ai biết rằng dấu ấn ấy vốn chỉ là dấu chân của một con mèo nhỏ.
Ngày nay, khi những bình pha lê ấy được trưng bày trong các viện bảo tàng, không ai có thể tưởng tượng đó từng là “trò đùa” nhất thời của một thần sứ.

 

Với hậu thế, đó là một biểu tượng thiêng liêng, một mật mã của nền văn minh thần bí, khởi nguồn từ vị Thần Mèo đã khai sáng nhân loại.

 

K ca ngợi điều ấy từ tận đáy lòng.

 

Còn Tân Hòa Tuyết, dĩ nhiên chẳng hề biết K đang nghĩ đến những điều cao xa đó. Y chỉ đang cố gắng thu lại chút đặc tính mèo của mình. Từ khi nhận được sự chúc phúc của Thần Mèo Bast khi tiến vào thế giới lần đầu tiên, Tân Hòa Tuyết đã cảm nhận rõ ràng cơ thể mình có sự thay đổi....

 

Ví như ban đêm, đầu óc y trở nên nhanh nhạy khác thường. Khi đi lại trên đất bằng, y thường có xu hướng nhún người bước nhẹ, như đang di chuyển trên móng mềm. Sáng nay, ngay trong bữa sáng cùng Vizier, y còn vô tình làm vỡ một chiếc chén gốm.

 

Tất nhiên… chuyện đó không hoàn toàn là lỗi của y.

 

Chiếc chén ấy vốn đặt trên bàn bên cạnh, y chỉ đi ngang qua mà thôi. Nhưng quả thật, đôi khi Tân Hòa Tuyết không thể khống chế nổi bản năng hóa mèo ấy.

 

Vừa rồi, suýt chút nữa y đã biến ra móng vuốt, thậm chí đôi tai cũng đã bắt đầu nhú lên.

 

May mắn thay, y vẫn còn đủ tỉnh táo để ép chúng ẩn đi. Nếu đôi tai ấy mà đột nhiên dựng thẳng dưới lớp mũ choàng trắng, e rằng cảnh tượng sẽ vô cùng kỳ dị.

 

Mải suy nghĩ, Tân Hòa Tuyết không nhận ra sự thay đổi phía sau lưng mình.

 

Saito đang nhìn chằm chằm vào khuôn đúc, nơi dấu tay của y in lại. Trong đôi mắt nâu vàng kim, ánh sáng lạnh lẽo như mắt sói hiện lên sắc bén.

 

Dấu ấn…

 

Ở Ai Cập, tù binh hay nô lệ đều bị đóng dấu lên da thịt. Họ nung chảy đồng đến đỏ rực rồi ép vào làn da trần, để lại vết sẹo vĩnh viễn vừa là biểu tượng thân phận, vừa là sự tuyên bố rằng họ thuộc về ai.

 

Với những nô lệ hay tù binh phản nghịch, hoặc kẻ dám vượt quá bổn phận, dấu vết ấy lại là một hình phạt khắc nghiệt, thay cho xiềng xích.

 

Saito siết chặt hàm, hơi thở trở nên gấp gáp. Lực quá mạnh, hắn khiến vị máu mằn mặn dâng lên trong miệng. Tay hắn vô thức xoa mãi vào cổ tay, nơi thường mang chiếc vòng vàng.

 

Xoa đến mức làn da rám nắng cũng hằn đỏ.

 

Nephthys…

 

Nephthys…

 

Cái tên ấy vang lên trong đầu hắn, từng hồi từng nhịp.

 

Nephthys…

 

Người đã ban cho hắn sinh mệnh mới.

 

Cũng là người khiến hắn vĩnh viễn không thể thoát khỏi trừng phạt.

 

Nephthys…

 

Hắn…

 

Saito lặng lẽ bước theo sau, ánh mắt không rời bóng áo choàng trắng phía trước như một cái bóng dai dẳng.

 

………

 

Tân Hòa Tuyết và đoàn tùy tùng đã rời khỏi hoàng cung từ lâu. Sau khi căn dặn nhóm thợ thủ công ở ngôi làng bên đại mạch nước ngầm, họ cũng không còn việc gì khác phải làm.

 

Trên đường trở về, Tân Hòa Tuyết trông thấy rất nhiều người đang lùa dê, dắt bò, hướng về phía ngôi thần miếu.

 

Anath hờ hững cất tiếng, tựa như chỉ tiện miệng mà nói:
“Lễ tế Thần Ngưu sắp đến rồi.”

 

Ánh mắt hắn nhìn thẳng vào Tân Hòa Tuyết, trong đó như ẩn chứa chờ mong, dường như hy vọng người kia sẽ nói điều gì đó.

 

Nhưng Tân Hòa Tuyết có thể nói gì đây?

 

Dưới tấm áo choàng trắng, y khẽ nhướng mày. Y vẫn chưa hiểu rõ tập tục nơi này, cũng không biết rằng do sự xuất hiện của mình, tân vương Pharaoh đã quyết định để y đảm nhận vai trò Đại Tư Tế, chủ trì nghi thức hiến tế linh thiêng, thay thế cho chức vị vốn do các tế tư của thần Osiris đảm nhiệm.

 

Nói cách khác, y sẽ thay Anath, đứng trước muôn dân, chủ trì đại lễ thần ngưu long trọng.

 

Vizier đứng bên giải thích:
“Thần Ngưu Tiết là một trong những ngày hội tôn giáo trọng đại nhất của chúng ta, được tổ chức mỗi năm vào mùa nước dâng của sông Nin. Sau lễ tế năm trước, các tư tế sẽ chọn ra một con bò khỏe mạnh nhất để làm Thần Ngưu Apis, và đưa nó vào thần miếu nuôi dưỡng.”

 

“Thần Ngưu ấy sẽ được chăm sóc suốt một năm, đến năm sau sẽ được dâng lễ vật, rồi cử hành nghi thức tế và tang lễ đặc biệt. Thần Ngưu Apis là biểu tượng của mặt trời, của sự phồn thực và dòng chảy sinh mệnh bất tận. Người ta tin rằng, Ngài sẽ phù hộ cho mùa màng, dòng sông và đàn gia súc trong năm mới.”

 

Vì thế, Thần Ngưu Tiết thường được tổ chức vào thời kỳ nước sông Nin dâng cao, khi đất ruộng ven sông bị ngập, không thể gieo trồng.

 

Con thần ngưu mới đã được nuôi trong miếu gần một năm nay.

 

“Thế còn những con vật kia…” — Tân Hòa Tuyết khẽ nói, mắt nhìn về phía đoàn người đang dắt dê bò đi trên con đường cát vàng phía xa.

 

“Thần ngưu chỉ có một, nhưng vẫn cần nhiều vật tế khác nữa.” — Anath lạnh lùng đáp, giọng mang theo chút cay nghiệt, tựa như vừa nắm được cơ hội nào đó.

 

Những con vật kia đều là súc vật hiến tế, do nông dân dâng lên, khác hẳn với trâu cày của họ.

 

Một con trâu trong số đó còn chưa kịp tháo chiếc cày trên vai. Chiếc cày ấy rất nguyên thủy, chỉ là một thanh đồng thô dẹt để xẻ đất, phía sau nối với một cán gỗ dài cho người điều khiển.

 

Tân Hòa Tuyết:
“Thoạt nhìn, chỉ có thể cày thẳng hàng, độ sâu đất cày cũng nông, chỉ vừa đủ xới lớp đất trên mặt.”

 

Anath nhìn y chằm chằm như thể đang chứng kiến một điều kỳ lạ khó tin:
“Ngài… có đang nghe tôi nói không?”

 

Chẳng lẽ mình nói không ra tiếng ư?

 

Vì sao, mỗi lần hắn lên tiếng, đối phương đều coi như không tồn tại?

 

Từ trước đến nay, Anath chưa bao giờ bị đối xử lạnh nhạt đến thế.

 

Cuối cùng, Tân Hòa Tuyết cũng liếc nhìn hắn, giọng mang theo chút nghi hoặc:
“Ngài vừa nói… điều gì cơ?”

 

Anath hít sâu một hơi, cảm giác như cú đấm của mình rơi vào lớp bông mềm, nghẹn lại trong ngực mà chẳng thể trút ra.

 

Vizier, tuy nhiên, lại nhạy bén mà bắt được ý trong lời Tân Hòa Tuyết, vội hỏi:
“Thần sứ đại nhân, có phải ngài đang nghĩ đến việc cải tiến cày bừa sao?”

 

Ruộng ven sông Nin vốn được phù sa bồi đắp nên rất màu mỡ, thường không cần cày sâu. Tuy nhiên, chỉ từ tháng Mười Một đến tháng Sáu năm sau mới có thể trồng trọt, bởi phải thuận theo chu kỳ dâng rút của sông Nin.

 

Còn những thửa ruộng ở vùng cao, quanh năm có thể canh tác, nhưng lại thiếu nước tưới, khiến cày chỉ có thể xới nông lớp đất ngoài. Do đó, đất bạc màu, mùa màng kém thu, đời sống nông dân bấp bênh.

 

Toàn bộ hy vọng của dân chúng về một mùa bội thu đều gửi gắm vào sông Nin. Nhưng chỉ cần một trận lũ lụt hay hạn hán sẽ khiến cho thu hoạch không tốt, tất cả sẽ tan biến, thậm chí kéo theo nạn đói và bất ổn.

 

Tân Hòa Tuyết bất giác nhớ lại loại cày mà y từng sử dụng khi chủ trì nghi thức khai vụ mùa xuân ở Trung Nguyên cổ đại.

 

“Tôi muốn đi xem tình hình canh tác ở vùng ruộng cao.” — Y quay sang nói với Vizier.

 

……

 

Bọn họ rời khỏi ngôi làng của thợ thủ công, rồi men theo con đường ngược lên vùng cao, nơi có những thửa ruộng cạn trải dài theo triền núi.

 

Độ dốc ở đây không lớn, địa hình thoai thoải, nhưng dưới ánh mặt trời chói chang rực vàng treo giữa bầu trời, Tân Hòa Tuyết bắt đầu cảm thấy rõ ràng sức chịu đựng của cơ thể mình đang bị thử thách.

 

Trước mắt y dần mờ đi, ánh sáng vàng kim phản chiếu lên tầm nhìn khiến mọi vật như lay động, méo mó. Y lảo đảo, ngực nghẹn lại, hơi thở trở nên nặng nề.

 

Chính Nubu là người đầu tiên nhận ra sự khác thường ấy.

 

Trong khi không khí nóng hầm hập, Tân Hòa Tuyết lại toát ra một thân mồ hôi lạnh.

 

Nubu vội chạy tới, đỡ lấy y, dìu đến nghỉ dưới bóng râm của mấy cây cọ.

 

Sự xuất hiện của đoàn người khiến con chim ưng đang đậu trên cành bị kinh động. Nó tung đôi cánh đen ánh vàng kim, bay lên trời cao, lượn vài vòng giữa không trung. Ánh mắt sắc bén của nó quét qua đám người dưới đất, rồi bất chợt nghiêng cánh, bay thẳng về phía sâu trong vùng Thebes.

 

Tân Hòa Tuyết tựa lưng vào thân cây, sắc mặt tái nhợt, thở phì phò. Đầu y quay cuồng nặng trĩu, trong ngực cuộn lên một trận buồn nôn khó chịu, e rằng y đã bị say nắng.

 

Nubu tháo túi nước mang bên mình, định đỡ cho y uống.

 

Ngay lúc ấy, Tân Hòa Tuyết cúi đầu, đưa tay lên thắt lưng áo bào trắng. Ngón tay y khẽ run, song động tác vẫn thuần thục.

 

Tấm áo bào phức tạp rơi xuống, trải dài trên mặt cát. Gió nóng lập tức tràn tới, mang theo một luồng mát nhẹ len qua da thịt, khiến y thấy dễ chịu hơn hẳn.

 

Mái tóc bạc trắng bạc trên trán y ướt đẫm mồ hôi. Khi ngẩng đầu lên, y mới ngạc nhiên phát hiện những người xung quanh không hẹn mà cùng quay lưng lại, nhất trí hướng mặt về phía khác.

 

Trên cát còn hằn rõ dấu chân của họ, đều đều, ngay ngắn như thể cả nhóm cùng xoay người trong cùng một khoảnh khắc.

 

Tân Hòa Tuyết: ?

 

Tân Hòa Tuyết hơi hơi kinh ngạc:
“... Có thể đừng đứng che gió như thế được không? Tôi đang hóng mát.”

 

Nubu cụp mắt, khẽ đưa nước cho y.

 

Saito cúi xuống, nhặt tấm áo choàng trắng trên đất, bàn tay siết chặt không nói một lời.

 

Anath ấp úng như muốn nói gì đó nhưng không thể thốt ra, cuối cùng chỉ hổn hển quay bước, song vẫn không dám quay lại, đôi tai đỏ đến mức gần như sắp rỉ máu.

 

Trước mắt hắn, hình ảnh khi nãy vẫn chưa thể xóa đi:

 

Làn da trắng tinh, lại ánh lên sắc hồng phấn diễm lệ, giọt mồ hôi lạnh lăn dọc theo cổ, ánh lên màu vàng kim như cát sông Nin dưới nắng, cả người tựa hồ như một thủy yêu tóc trắng bạc mỹ lệ bước ra từ dòng sông.

 

Giống như yêu quái trong truyền thuyết, sẽ kéo kẻ lỡ nhìn mình xuống tận đáy nước, vùi trong những lọn rong xoáy mênh mông.

 

Anath thấy đầu óc mình quay cuồng, chưa từng có khoảnh khắc nào say mê đến thế.

 

Saito bước tới, quỳ xuống cạnh Tân Hòa Tuyết, nhẹ nắm lấy bàn tay y đặt lên lòng bàn tay mình.

 

Cơ thể Tân Hòa Tuyết lạnh đến bất thường, lòng bàn tay lại hơi ẩm, dính dính, là mồ hôi do nóng quá mà toát r hệt như cách một con mèo nhỏ tản nhiệt qua lớp đệm hồng nhạt nơi bàn chân.

 

Bất chợt, Saito bế bổng y lên. Chiếc áo choàng trắng phủ kín người Tân Hòa Tuyết, hai cánh tay rắn chắc siết chặt quanh thân y. Saito như một con sói, nhanh nhẹn và mạnh mẽ, lao vút đi.

 

“Saito?!” Tân Hòa Tuyết kinh ngạc trách mắng, “Anh đang làm gì thế?!”

 

Gió lạnh từ phía dưới thốc lên, cuộn tròn quanh hai người.

 

Giọng Saito khàn khàn, truyền đến trong cơn chạy gấp:
“Về cung điện. Ngay lập tức.”

 

____________
Mèo nhỏ, xem ra em có thể có được ngai vàng cho chính mình rồi.

Bình Luận (0)
Comment