Chứng Bệnh Khiến Vạn Người Say Đắm Giữa Chốn Quyền Uy

Chương 154

Cho dù trong lòng đã sớm có dự cảm mơ hồ, Nubu vẫn không thể tin nổi cảnh tượng trước mắt mình.

 

Những dấu vết chằng chịt, đậm nhạt xen kẽ, vì in hằn trên làn da trắng ngần mà hiện ra rõ rệt, hồng nhạt, đỏ sậm, từng vệt như bừng sáng trên nền lụa, khiến người ta không thể rời mắt.

 

Nubu choáng váng, đầu óc ù đặc, đầu gối bỗng mềm nhũn, khuỵu xuống đất một cách nặng nề.

 

Đêm qua, hắn đã thấy pharaoh rời khỏi đền thần trong chiếc kiệu xa hoa, trong lòng mơ hồ đoán được rằng thần sứ có lẽ bị đưa đi cùng. Thế nhưng sự việc lại diễn biến phức tạp hơn hắn tưởng, và kết cục trước mắt… tàn khốc đến mức không thể nào tưởng tượng nổi.

 

Ký ức không thể ngăn nổi ùa về. Khi hắn còn nhỏ, vị vua của Ai Cập khi ấy cũng giống như vậy, thường xuyên nổi cơn thịnh nộ, xông vào hậu cung, cưỡng ép mẹ hắn dưới màn rèm, rồi lạnh lùng rời đi như chưa từng có chuyện gì xảy ra.

 

Dòng máu hoàng tộc trên mảnh đất này, từ đời này sang đời khác, đều kế thừa sự tàn nhẫn ấy.

 

Nubu cúi đầu chạm trán xuống tấm thảm. Họa tiết hoa sen xanh được thêu trên nền thảm như in sâu vào đôi mắt nhắm nghiền của hắn.

 

Giọng hắn vang lên:
“Xin thần sứ đại nhân trừng phạt tôi vì đã thất trách(*).”

 

(*) "Thất trách" là hành vi hoặc thái độ làm việc cẩu thả, thiếu tinh thần trách nhiệm, chỉ làm cho xong mà không quan tâm đến kết quả

 

Bởi hắn biết, bản thân chẳng thể ngăn cản, chẳng thể trông thấy, cũng chẳng thể cứu vãn điều gì.

 

Trong đầu, ký ức trong chỗ sâu nhất lại hiện về, hình ảnh người mẹ từng lạc quan, rộng rãi đã dạy hắn những khúc ca Nubia, khi lâm chung chỉ còn lại thân hình khô héo, gầy gò như dòng sông Nin mùa cạn, nơi chỉ còn đọng lại một vệt ẩm ướt cuối cùng. Mùi hôi thối của cái chết lan ra từ thân thể bà, nặng nề, không thể xua đi.

 

Một khoảng lặng thật dài trôi qua, dường như chỉ đong đếm được bằng vài hơi thở của Nubu.

 

Rồi hắn nghe thấy một tiếng cười khẽ ở phía trước.

 

“Cậu nghĩ tôi sẽ trách cứ cậu vì chuyện này sao?”

 

Nubu ngẩng đầu.

 

Tân Hòa Tuyết đang nằm tựa đầu trên gối, nghiêng người nhìn hắn, ánh mắt lười biếng, tư thế như một con mèo nhỏ đang phơi nắng. Y khẽ ra lệnh:
“Rót cho tôi một chén nước.”

 

Tân Hòa Tuyết chống cằm, nhìn người hộ vệ sắp sụp đổ vì áy náy, thấy hắn rốt cuộc cũng đứng dậy đi tìm nước.

 

Nhờ đề nghị của thần sứ, từ một thời gian đến nay, người ở Thượng Ai Cập đã hình thành thói quen đun sôi nước rồi để nguội mới uống hàng ngày, so với trước kia, trừ khi dùng dược liệu để chữa bệnh mới uống nước nóng.

 

Dẫu nguồn nước của thời đại này chưa đến mức ô nhiễm như hậu thế, nhưng nước sôi để nguội vẫn có thể tránh được nhiều chứng bệnh do vi khuẩn gây ra, một mối đe dọa chí mạng trong thời đại y học còn sơ khai.

 

Khi dòng nước ấm trôi xuống cổ họng, Tân Hòa Tuyết mới cảm thấy dễ chịu hơn đôi chút.

 

Giọng y khàn đặc, vì đêm qua đã khóc đến kiệt sức.

 

Thật ra, Tân Hòa Tuyết đã quá quen với những chuyện thế này. Y chấp nhận một cách bình thản, thậm chí chẳng còn bối rối khi phát hiện mình bị đẩy xuống sàn, không còn sợ sệt những sợi dây leo loằng ngoằng, hay những người đàn ông với d*c v*ng điên cuồng, cùng những khuyên lưỡi và hạt châu…

 

So với những điều ấy, Lahotep — người đàn ông truyền thống quả thực đã đối xử với y không tệ.

 

Nubu cẩn thận đặt tay lên eo Tân Hòa Tuyết, nhẹ nhàng xoa bóp cơ bắp cho y thư giãn.

 

Mỗi khi lực tay hơi mạnh, thần sứ sẽ khẽ bật ra một tiếng rên rất nhỏ.

 

Mỗi khi nghe thấy tiếng rên ấy khiến lòng bàn tay Nubu nóng rực, như đang cầm trên tay than hồng.

 

“Như vậy… được chứ?”

 

Hắn dè dặt hỏi, thử điều chỉnh lực đạo.

 

Tân Hòa Tuyết mơ màng sắp ngủ, đáp khẽ một tiếng: “Ừm…”

 

Nubu liền im lặng, tiếp tục xoa bóp.

 

Cơ thể trước mắt hắn như chịu đựng sự dày vò, hoặc có lẽ chỉ vì làn da của thần sứ quá mỏng, quá mịn, nên những vết đỏ lại hiện lên rõ rệt đến mức khiến người ta không thể rời mắt, như thể có thể mường tượng ra cảnh tượng của “kẻ ở trên”, khi nắm chặt vòng eo mảnh khảnh ấy, mà chiếm lấy không chút nương tay…

 

Khi Nubu tưởng rằng thần sứ đã chìm vào giấc ngủ với hơi thở đều đặn, Tân Hòa Tuyết lại khẽ cất tiếng hỏi:

 

“Nubu?”

 

“Thần ở đây.” — Nubu đáp nhỏ.

 

Tân Hòa Tuyết đan hai tay lại, tựa đầu lên đó, nghiêng mặt sang phía hắn:
“Cậu có muốn gia nhập đội tuần tra trong hoàng cung không?”

 

Nubu khẽ sững người.

 

Hiện tại, chức vụ của hắn chỉ là một trong những binh sĩ phụ trách an toàn cho cung điện của thần sứ. Điều đó có nghĩa là hắn không có địa vị cao, chỉ được phép hoạt động trong khu vực nhỏ này, hoặc đi theo thần sứ khi ra ngoài.

 

Còn đội tuần tra trong hoàng cung, những binh lính ấy có cấp bậc cao hơn, được phép di chuyển khắp hoàng cung Thebes rộng lớn, mà vẫn có thể đặt trọng tâm vào việc bảo vệ an toàn cho thần sứ.

 

Đó quả thực là hướng mà Nubu vẫn luôn nỗ lực hướng tới. Hắn từng dò hỏi vài binh sĩ lâu năm trong cung về cách được điều vào đội ấy, nhưng chưa từng thổ lộ điều đó với Tân Hòa Tuyết.

 

Vì đằng sau còn có một mục đích khác sâu xa hơn...

 

Nubu trở lại nơi này không chỉ để phục vụ thần sứ, mà còn vì muốn truy tìm chân tướng cái chết của mẹ mình. Dù đã rời khỏi cố đô, hắn vẫn hy vọng có thể tìm được một vài manh mối còn sót lại.

 

“Thần…” — Nubu vừa mở miệng, nhưng chưa kịp nói hết câu thì Tân Hòa Tuyết đã khẽ nhắm mắt, dường như lại ngủ mất rồi.

 

……

 

Trong buổi họp sáng hôm qua, Pharaoh nổi giận dữ dội.

 

Khi phiên họp kết thúc, toàn bộ đại thần đều đồng loạt im lặng, chẳng ai dám hé môi, ngay cả các thị vệ ngoài cửa cũng không dám bàn tán nửa lời.

 

Không ai biết vị đại thần Anath - người đã đột ngột xông vào cung hành chính trong buổi họp ấy, rốt cuộc đã nói những gì khiến Pharaoh và cả thần linh phẫn nộ đến thế. Chỉ biết rằng, sau khi cuộc họp chấm dứt, Anath - kẻ vốn đã bị giáng chức xuống làm quan giám sát xây dựng tháp, bị tước bỏ hoàn toàn chức vụ, giam lỏng trong cung điện của mình, không được bước ra ngoài nửa bước.

 

……

 

Khi Tân Hòa Tuyết tỉnh dậy, người hầu trong cung đến hầu hạ, khẽ nói rằng: “Bạch Vương đã đến sau cuộc họp, nhưng ngài ấy chỉ đứng ngoài cửa. Nghe nói thần sứ đang ngủ, nên đức vua đã rời đi.”

 

Sau bữa tối, y vẫn chờ thêm một lúc, xác nhận rằng Lahotep hôm nay sẽ không quay lại nữa, bèn rửa mặt, súc miệng rồi đi ngủ sớm.

 

Từ đó trở đi, trong một khoảng thời gian dài, Tân Hòa Tuyết không còn gặp lại Pharaoh. Chỉ có giá trị tình yêu trong không ngừng tăng lên, như thể phản ánh một tấm lòng vẫn không thôi trăn trở của vị quân vương ấy.

 

……

 

Sau khi lễ tế Thần Ngưu long trọng kết thúc, mùa Akhet — mùa lũ — cũng dần đi qua. Đến tháng Mười Một, nước lũ sông Nin rút xuống, để lộ lớp đất đen màu mỡ. Mọi người lại tất bật chuẩn bị cho mùa Peret, mùa gieo trồng, mùa bận rộn thứ hai trong năm.

 

Cuộc sống và sản xuất dần trở lại quỹ đạo.

 

Sau khi chính thức trở thành Đại Tư Tế, công việc của Tân Hòa Tuyết cũng không còn nhàn nhã như trước. Mỗi sáng, y phải đích thân dâng lễ vật cho các vị thần trong đền, mở cánh cửa phong ấn dẫn vào thánh điện, đọc kinh văn và thánh thi chào bình minh. Đến hoàng hôn, nghi thức lặp lại: tượng thần được đặt lại vào vị trí, cửa thánh điện khóa kín, chờ ngày hôm sau tái diễn.

 

Dĩ nhiên, trong đền thần còn nhiều chức sắc khác, những người có thể chia sẻ phần việc cùng y. Bởi vậy, Tân Hòa Tuyết cũng không dành toàn bộ thời gian cho các nghi lễ.

 

Y thường đi dạo trên đường phố. Tấm áo choàng trắng phủ kín thân hình khiến y dù muốn hòa mình vào đám đông cũng khó có thể che giấu thân phận.

 

Người dân hai bên đường lập tức tránh ra, mở lối thật rộng, sợ rằng nếu vô tình chạm vào thần sứ sẽ phạm thượng.

 

Dù các người hầu từng truyền đạt rằng thần sứ không quá câu nệ lễ nghi, nhưng ánh mắt của mọi người vẫn tràn đầy cung kính xen lẫn e dè, như đang nhìn một món đồ sứ quý giá dễ vỡ mà họ chẳng dám chạm tay.

 

Trong đám đông, có người khẽ thì thầm:

 

“Là ngài Iah… thần sứ Iah đại nhân!”

 

Tiếng bàn tán rì rầm dấy lên.

 

Bỗng, một đứa trẻ mặc áo vải thô len ra từ đám đông, chạy thẳng đến trước mặt Tân Hòa Tuyết. Cha mẹ nó hoảng hốt gọi to:

 

“Barney!”

 

Thị vệ lập tức chặn đứa bé lại, cha mẹ nó đứng phía sau, mặt tái nhợt vì lo sợ.

 

Tân Hòa Tuyết khẽ lắc đầu, ra hiệu cho thị vệ lùi lại, rồi cúi xuống nhẹ nhàng hỏi:

 

“Sao thế, Barney? Em có chuyện gì à?”

 

Đứa bé thô lỗ chạy vội lại đây, giờ mới có thể nhìn rõ vị thần sứ tóc trắng bạc da trắng trước mặt mình.

 

Barney ngẩn ngơ nhìn y một lúc lâu, rồi rụt rè đưa tay lên:

 

“Cái này… Iah đại nhân, ngon lắm.”

 

Lúc ấy, Tân Hòa Tuyết mới phát hiện trong tay đứa bé là một miếng bánh bã đậu.

 

Vì Tân Hòa Tuyết không thích ăn bánh mì lúa mì quá thường xuyên dù chính y đã cho người truyền dạy và cải tiến kỹ thuật xay bột, khiến bánh mì ngày nay đã mềm mịn và ngon hơn rất nhiều so với trước nhưng nếu phải ăn đi ăn lại mỗi ngày, y vẫn cảm thấy ngán ngẩm.

 

Vì thế, vào những lúc rảnh rỗi, y thường bảo đầu bếp trong cung dựa theo lời dặn mà làm ra những món mới: như bánh rán bằng lúa mạch, trộn thêm mật ong và bơ, cùng vài nguyên liệu khác. Nếu món ăn nào chế biến thành công, lại dễ thực hiện, y sẽ ra lệnh phổ biến cho dân chúng học làm theo.

 

Bã đậu chính là một trong những món như vậy, một món ăn mới do y nghĩ ra.

 

Ngoài lúa mì và lúa mạch, vùng đất này còn trồng rất nhiều loại đậu. Nhờ kỹ thuật xay bột được cải tiến, người ta có thể nghiền nhuyễn đậu cùng nước, thêm chút gia vị, là đã có thể tạo nên món bã đậu mềm mịn, hương vị nhẹ mà thanh.

 

Đối với dân thường, đây là một loại thực phẩm rẻ tiền, dễ làm mà lại dồi dào protein.

 

Tân Hòa Tuyết bẻ một miếng nhỏ, đôi mắt khẽ hạ xuống, nghiêm túc nếm thử.

 

“Không tệ chút nào. Là cha mẹ em làm ra à?”

 

Y nhìn thoáng qua, liền đoán được hoàn cảnh của Barney không khá giả. Trên người cậu bé là bộ áo bằng vải đay thô đã ngả vàng, chỉ khá hơn nô lệ và dân lao động một chút, chắc thuộc tầng lớp nông dân hoặc thợ thủ công.

 

Barney gật đầu: “Cha con trồng đậu, còn mẹ đến trường học để học cách làm.”

 

Đó chính là ngôi trường mới được xây ở nửa phía đông thành phố.

 

Theo truyền thống Ai Cập cổ, các trường học thường do quan lại hoặc giáo viên giảng dạy, dạy chữ viết, toán học, đọc, hát thánh ca, bơi lội hay múa. Nhưng trường học do Tân Hòa Tuyết lập ra lại khác hẳn.

 

Y định vị nó là trường đào tạo thực hành, nơi mọi người có thể học các kỹ năng thiết thực để phục vụ đời sống: như nấu ăn, chế biến bã đậu, hay những công việc sinh hoạt khác.

 

Gần đây, trường còn mở thêm lớp đào tạo y thuật cơ bản, cho các thầy lang trong thành đến học tập.

 

Tân Hòa Tuyết vốn không phải là một bác sĩ chuyên nghiệp, nhưng y là người trải qua nhiều năm bệnh tật, nên có rất nhiều kinh nghiệm phong phú, hiểu sâu sắc nỗi khổ của bệnh nhân. Cái gọi là “bệnh lâu thành lương y”.

 

Y từng được tiếp xúc với y thuật của thời đại tinh tế hơn, của các vương triều Trung Nguyên xa xưa. Dù chỉ học lỏm qua kinh nghiệm mưa dầm thấm lâu, nhưng ở thế kỷ 15 trước Công nguyên, chừng đó hiểu biết đã là vô cùng quý giá.

 

Chỉ riêng việc phổ biến khái niệm vi khuẩn và lây nhiễm, hướng dẫn cách tiệt trùng cơ bản, cũng đủ để giảm mạnh nguy cơ bệnh tật.

 

Thêm vào đó, y còn truyền dạy cách kết hợp dược lý học từ thảo mộc từ vương triều Trung Nguyên, cùng phương pháp ghi chép hồ sơ bệnh án thời hiện đại và dùng những dụng cụ chẩn đoán đơn giản như nhiệt kế hay ống nghe. Nhờ vậy, độ chính xác trong chữa trị được nâng lên rõ rệt.

 

Nghĩ đến đây, Tân Hòa Tuyết khẽ xoa đầu Barney, dịu dàng nói:
“Được rồi, Barney. Cha mẹ em đang lo cho em kìa. Mau về với họ đi.”

 

Y định lát nữa sẽ đến thăm trường học xem tình hình thế nào và còn một việc khác quan trọng hơn.

 

Trước đó, y đã đổi được từ cửa hàng hệ thống một loại hạt giống ngô sản lượng cao, được mô tả là “chịu hạn, kháng sâu, lại kháng bệnh tốt”. Y dự định cho người đem gieo thử ở đất ruộng cạn ở vùng cao để xem kết quả.

 

Barney lưu luyến không rời nhìn y:
“Iah đại nhân, sau này con cũng muốn học làm thầy thuốc, con sẽ đi đến trường để học, để chữa bệnh cho ngài… Như vậy sắc mặt của ngài sẽ không còn nhợt nhạt như thế nữa.”

 

Tân Hòa Tuyết thoáng sững người, rồi mới hiểu đứa bé ngây thơ này tưởng làn da trắng của y là biểu hiện của bệnh tật.

 

Y không nhịn được mà bật cười.

 

Cuối cùng, Barney cũng chạy về bên cha mẹ, cả hai người vội vã cúi người tạ lễ thần sứ.

 

……

 

Về sau, món ăn mới mang tên “bã đậu” ấy được dâng lên bàn của Hồng Vương.

 

Trải qua hành trình dài, món bã đậu khi đến nơi đã mất đi vị mềm mịn ban đầu, trở nên khô quắt, sần sùi trông càng thêm kỳ lạ khi được bày cạnh thịt cá tươi ngon, máu nai đỏ sậm còn đang ứa ra trên đĩa.

 

“Họ gọi món này là món do vị thần sứ kia sáng tạo ra sao?” — Hồng Vương khẽ hỏi, ánh mắt sắc bén như sói nheo lại đầy hiểm ý.

 

Tên thám tử quỳ dưới đất đáp: “Họ ví ngài ấy như…trân châu kim sa.”

 

“Trân châu kim sa…”

 

Thật khéo, đó cũng là thứ hắn yêu thích nhất.

Bình Luận (0)
Comment